Thursday, November 30, 2017

Ông Này không làm thơ


Những tháng cuối năm của Seattle rất nhiều mưa. Thỉnh thoảng mới có một ngày nắng ấm. Nhìn mưa nhớ ra những người bạn ở xa sắp tới chơi nguyên cả tuần, gặp mưa như thế này sẽ ngại và chán lắm. Tôi phải có sẵn mấy câu thơ để hối lộ. Chắc là sẽ vừa ôm vai vừa đọc ngay cho bạn khi ra đón ở phi trường.
Nắng ở đây hiếm hoi như hạnh phúc
Anh có về gọi nắng đến cho em
Anh có về mang theo chút tình riêng
Em sưởi ấm trong những ngày mưa bụi. 
(Gọi Nắng-tmt)
Hy vọng những người bạn yêu thơ được dúi cho vào tay mảnh giấy có mấy câu thơ này chắc sẽ bao dung với đất trời.
Tôi ngồi vào bàn viết, mở máy tính ra gõ xuống câu thơ. Cái máy tính mới được “đổi mới” mấy hôm trước để dùng cho những thảo chương quá cũ cần thay đổi hay bỏ đi. Mấy câu thơ hiện ra trên cái màn ảnh nhỏ:
Nắq ở đây hiếm hoi n’ư hạn’ fúc
An’ có về gọi náq đến co em
An’ có về maq weo n’út tìn’ riêq
Em sưởi ấm troq n’ữq qày mưa bụi
Tôi dụi mắt đọc lại. Đọc mãi vẫn không hiểu mình đang đọc một câu thần chú gì.
Hình như tiếng Việt trong máy của tôi đã bị một mụ phù thủy phá phách. Cái mụ mặc áo choàng đen đội một cái mũ nhọn, nét mặt rất ác và có cái mũi khoằm, cưỡi trên một cái chổi bay ngang mái nhà thường xuất hiện vào ngày Halloween để dọa trẻ con.
Tôi hốt hoảng vào ngay Google tìm bài thơ Vang Vang Trời Vào Xuân của Thanh Tâm Tuyền.
Mặt cời hồq n’ư chăq
Wức lòq ta buổi sớm
Zó núi wổi rộn ràq
Gọi qe biển đậy sóq
Đọc hai ba lần cũng không tìm ra được câu thơ nguyên tác ngày cũ.
Mặt trời hồng như trăng
Thức lòng ta buổi sớm
Gió núi thổi rộn ràng
Gọi nghe biển dậy sóng (Thanh Tâm Tuyền)
Bài Thơ này là bài Thơ tôi quý nhất trong những bài Thơ sau 1975 của TTT.
Hay là tôi đi tìm thi sĩ Mai Thảo. Thi sĩ này đã đem hình mình đặt trong tận “miếu đền” chắc mụ phù thủy áo đen đó không dám rỡn mặt.
Tôi trích một đoạn trong bài thơ dài của ông:
Ta wấy hìn’ ta n’ữq miếu dền
Tượq thờ qìn bệ n’ữq côq viên
Sao xôq xói với hươq sùq ki’n’
Đều qát wơm từ huyệt lãq kuên
Đọc đi đọc lại bốn câu trên, tôi thấy thương thi sĩ quá, chắc khi nào xuống California tôi sẽ ghé qua nghĩa trang tạ tội cùng thi sĩ vì không đuổi được mụ phù thủy áo đen để mụ bay cả vào đền thi sĩ có hình trong đó. Tôi sẽ đọc lại câu thơ nguyên thủy trước mộ ông:
Ta thấy hình ta những miếu đền
Tượng thờ nghìn bệ những công viên
Sao không, khói với hương sùng kính
Đều ngát thơm từ huyệt lãng quên 
(Mai Thảo)
Tôi viết thư cho các bạn, lục lọi những trang báo trên mạng thì mới biết là tiếng Việt “Tiếng Nước Tôi” đang bị một ông Tiến Sĩ muốn đổi mới.
À hóa ra không phải là một mụ phù thủy như tôi tưởng. Đây là một ông Tiến sĩ thật (không phải tiến sĩ giấy) Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Bùi Hiền, ông in thành sách đoàng hoàng và bài đã được đưa vào giới thiệu trong kỷ yếu hội thảo về ngôn ngữ học tháng 9-2017, do Hội Ngôn ngữ học VN và Đại học Quy Nhơn tổ chức.
Tôi tò mò tự hỏi: “Trong nước có bao nhiêu người hưởng ứng việc thay đổi cách viết mới này”. Báo Tuổi Trẻ trong nước, đăng bài của ông lên và kêu gọi ý kiến của độc giả. Chưa bao giờ có một con số góp ý nhiều như thế: 535 lời bình.
Tôi đọc thử một vài lời mà không nhịn được cười: Xin trích ra đây vài câu đọc cho vui mùa Xuân:
  1. Giờ mới hiểu tại sao chúng ta cần thêm 9000 Tiến Sĩ
  2. Ông này muốn ghi danh vào lịch sử đây
  3. Thần Kinh
  4. Cái này em thấy nó giống ngôn ngữ của tuổi teen trao đổi với nhau, thí dụ như o thik (không thích), wá đc (quá được) v.v... Nếu "thứ tiêq Việt" này được dùng, "ông Google" cũng chẳng thể dịch nổi loại "chữ" này.
  5. Mất thời giờ, vô ích.
  6. Ngoài ra toàn bộ dữ liệu về lịch sử Việt Nam cận đại và hiện tại (từ khi có chữ quốc ngữ) sẽ trở thành đồ bỏ đi do các thế hệ sau khi sửa đổi ngôn ngữ sẽ không ai khai thác được, nhiều công trình sẽ phải đục phá, sửa chữa, kinh phí thay đổi sẽ khổng lồ, quan hệ ngoại giao với các nước bị đình trệ.
  7. Ngày nay các nhà ngôn ngữ cấp tiến tại Trung Quốc cũng đã thừa nhận rằng việc dùng chữ giản thể đã khiến cho nhiều thế hệ cắt đứt với quá khứ, với văn hóa - lịch sử… 
  8. Ông Tiến Sĩ này có định xóa lịch Sử Việt để dần dần đồng hóa với Tầu không đấy ( Một ý kiến của độc giả trên mạng)
  9. Thay đổi cách viết tiếng Việt theo như đề xuất của cá nhân ông Bùi Hiền sẽ đe dọa, gây nguy cơ xáo trộn và đứt gãy tổng thể... trong các hoạt động của đất nước và của dân chúng.
Giả dụ cải tiến của Phó giáo sư, tiến sĩ Bùi Hiền thành hiện thực, không những Hiến pháp phải in lại, mà ngay cả đồng tiền, đơn xin việc, giấy kết hôn, thẻ căn cước, tên người, các danh từ riêng... đều phải sửa và in lại. (Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân)
Ở trong nước hiện nay số người có bằng Tiến Sĩ rất cao và con số này mỗi năm một tăng. Tiến Sĩ nhiều quá nên chắc các ngài phải nghĩ ra một điều gì rất lạ để đánh bóng học vị của mình và tìm đường vào văn học sử, hay chính những vị Tiến Sĩ này muốn cho những thế hệ sau không còn đọc được Lịch Sử Việt Nam. Đi xa hơn nữa, nếu chẳng may ‘Dự án điên rồ” này được chấp thuận, một ngân quỹ tiền tỉ sẽ được đề nghị chi ra cho việc in lại sách. Bao nhiêu sách cũ được in lại trung thực? Bao nhiêu tiền sẽ chi tiêu cho việc in sách và bao nhiêu tiền sẽ bốc hơi bay vào túi các ngài? Chỉ có Trời biết.
Cuốn sách đã được in ra: Ngôn Ngữ ở Việt Nam- Hội Nhập và Phát Triển (tập 1) Sách dày 2,200 trang do NXB Dân Trí phát hành.
Tiến Sĩ cũng cho chúng ta một bảng hướng dẫn để chúng ta đọc một chương dưới đây xem có hiểu gì không?
Sẽ bỏ chữ Đ ra khỏi bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành và bổ sung thêm một số chữ cái tiếng Latin như F, J, W, Z.
Bên cạnh đó, thay đổi giá trị âm vị của 11 chữ cái hiện có trong bảng trên, cụ thể: C = Ch, Tr; D = Đ; G = G, Gh; F = Ph; K = C, Q, K; Q = Ng, Ngh; R = R; S = S; X = Kh; W =Th; Z = d, gi, r.
Vì âm "nhờ" (nh) chưa có kí tự mới thay thế nên trong bản trên tạm thời dùng kí tự ghép N' để biểu đạt.
Thử đọc một bài viết bằng ngôn ngữ mới xem “Hàn Lâm” đến thế nào?
Tôi là người làm Thơ, tôi thật bối rối vô cùng. Nếu dùng loại ngôn ngữ “phù thủy” này chắc là trái tim tôi không cách nào theo kịp. Tôi nhớ lại cách đây hơn 20 năm, hồi tôi chưa dùng máy vi tính. Tôi viết tay một bài Thơ gửi đi, thư ký tòa báo sẽ đánh lại bỏ in.
Khi báo ra, câu Thơ của tôi chỉ sai một “dấu” đọc đã khác nghĩa rồi.
Câu thơ là : Trái tim tôi bi thương. Chữ “bi” in ra có dấu nặng thành “bị thương” Tôi mất ngủ ba đêm và thấy mình “bị thương” thật.
Bây giờ bắt tôi phải làm thơ với ngôn ngữ đổi mới này, chắc tôi phải thay nguyên tim, óc, mới và cả hai bàn tay mới. Tôi chắc ông PGS Tiến Sĩ Bùi Hiền này không đọc thơ bao giờ và chắc chắn không làm thơ rồi. Nếu có, ông đã chẳng nỡ đối xử với chữ nghĩa tiếng Việt như thế.
Trần Mộng Tú
28/11/2017

Saturday, November 11, 2017

Chiếc Lá Nào Sẽ Là Con

 

Cô cháu, con của em ruột tôi. Cô bị ung thư gan, chạy Chemo cả 7 tháng không có kết quả gì. Cục bướu ở trong gan vẫn càng ngày càng to ra. Bây giờ Bác Sĩ nói ngưng chạy Chemo vì không có hiệu lực, sẽ chuyển sang uống thuốc viên. Những viên thuốc này chỉ có tính cách kéo dài thời gian được ngày nào biết ngày đó.

Từ khi cháu bệnh tôi vẫn thỉnh thoảng nấu ăn cho cháu, vì cháu không còn thích thú gì trong việc ăn uống, nên mẹ cháu và tôi cứ phải nghĩ ra món gì lạ miệng rồi nấu chút một cho cháu nếm. Bố cháu thì xay đủ loại rau và trái cây thay đổi, nhưng cái gì cũng chỉ nếm một chút rồi thôi. Người cứ mỏng dần và da mặt xanh như lá. Nhìn cháu thương lắm mà không dám tỏ lộ ra mặt sợ cháu buồn.

Bác sĩ nói thời gian của cháu còn lại không nhiều. Cả gia đình đi chung quanh cháu, nhìn cháu, ôm cháu…Không làm thêm được điều gì giúp cháu. Vì không có cái gì hiện hữu để giành giật.  Đau lòng mà không dám khóc trước mặt cháu. Trưa nay tôi mang thức ăn sang nhà cháu. Con đường từ ngoài lộ chính vào tới nhà cháu qua một con đường đất nhỏ có cỏ úa và hai hàng phong hai bên. Nắng thu mong manh chiếu qua những tán lá nâu vàng, gió thổi rất nhẹ như không thổi. Tôi dừng xe lại và nước mắt trào ra. Con đường này sắp vĩnh viễn mất cháu. Rồi đây chồng con, cha mẹ, vẫn qua lại trên đường này, chỉ có cháu là rẽ sang một con đường khác. Cháu đi một mình. Tôi hình dung ra cháu đi tới cuối đường rồi mất hút, cháu có quay đầu nhìn lại nuối tiếc gì không? Chắc là có. Chồng đấy, con đấy, làm sao mà không nuối tiếc. Rồi còn cha mẹ, anh em, họ hàng, suốt bao năm làm người lúc nào cũng quấn quít nhau. Gia đình anh chị em tôi là một đại gia đình.

Từ lúc cháu sinh ra, lúc nào cô bé ấy cũng có những người thân yêu bên cạnh. Cô có tới 7 anh chị em, cô là Út. Cô có ba người mẹ. Mẹ sanh ra cô và hai chị của mẹ, cô cũng gọi là Mẹ. Gia đình chúng tôi không có ai là Bác, là Dì. Tất cả ba chị em đều là Mẹ của cả đàn con ba nhà cộng lại.

Làm sao tôi không đau khi ôm Út vào lòng và biết là mình đang ôm một đứa con sắp bỏ mình mà đi về một nơi miên viễn, một miền hoang vu như khói như sương nào đó. Nơi mà mình không thể nào đến tìm lại được. Thượng Đế không bán cho ai một cái vé khứ hồi. Út tới đó và Út ở lại, mặc dù nơi đó không phải là lựa chọn của Út. Rồi một ngày rất gần đây, những người thân yêu của Út chỉ biết đứng nhìn theo. Đặt vào tay Út một đóa hoa và nhìn Út quay lưng đi.

Từ khi Út bệnh tôi hay mất ngủ, tôi biết như thế là không tốt, tôi cần khỏe mạnh để giúp Út và cha mẹ Út khi cần tới mình. Tôi dỗ giấc ngủ mình bằng đọc sách. Tôi mang cuốn The Tibetan Book of Living and Dying (Tạng Thư Sống Chết) của Sogyal Rinpoche ra đọc. Tôi đọc  để tìm trong sách những hướng dẫn mình phải giúp đỡ người thân yêu cuối đời như thế nào.

Là người Công Giáo tôi tin sau cái chết linh hồn của mình sẽ đi tới một nơi nào đó tốt đẹp hay xấu hơn ở thế gian này. Tôi cũng tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa với tất cả mọi linh hồn, dù xấu hay tốt. Người sẽ phán xét với lòng bao dung. Tôi tin cô cháu tốt lành của tôi sẽ được hưởng những điều tốt lành ở nơi chốn thiêng liêng đó. Điều quan trọng là khi đối diện với cái chết cô có sẵn sàng sửa soạn để đón nhận không?

Nếu mình chấp nhận và tự giúp cho hồn mình thanh thản thì mình sẽ được đón nhận một sự ra đi êm ả. Nếu mình chống lại, tiếc nuối thì rất tội nghiệp cho phần xác cũng như phần hồn của mình. Chống chọi với tử thần là một điều không thắng nổi bao giờ.

Người Công Giáo tin rằng: Cái chết là cuối cùng của sự tồn tại cá nhân và sự khởi đầu của vĩnh cửu, khi cơ thể và tâm hồn được tách ra. Nhưng đối diện với cái chết là chuyện rất khó khăn với người đang đi vào cái chết và những người thân yêu chung quanh.“Thiên cổ gian nan duy nhất tử.”  Gian nan với người chết và cả với người sống.

Trong buổi trưa vắng lặng, tôi ngồi một mình với Út, tôi cầm tay Út nói:
Mẹ nói cũng thấy khó khăn và mẹ biết cũng khó cho con chấp nhận những lời mẹ nói. Nhưng con biết rồi đấy, khi con ra nghĩa trang thăm ông bà, con đôi khi đọc những tấm bia chung quanh, con chắc cũng nhìn thấy nhiều người chết trẻ. Họ chết vì bất cứ lý do gì: Chiến tranh, bệnh tật, tai nạn…Họ chết ở những tuổi khác nhau, nhưng con thấy rõ ràng là có nhiều người rất trẻ, trẻ hơn con hay bằng tuổi con hoặc lớn hơn con vài ba tuổi. Người ta chết ở bất cứ tuổi nào con ạ. Điều này chỉ giữa Thượng Đế và người chết biết với nhau thôi.

“Con biết”, Út vừa chậm nước mắt vừa nói. Tôi cũng nhắc cho Út biết rõ ràng là những đứa con của Út sẽ được cha của chúng và cả đại gia đình ông bà, họ hàng săn sóc thương yêu, nhất là hai người chị còn trẻ của Út.

Con nhớ là Chúa không bỏ ai. Cánh cửa này đóng sẽ có cánh cửa khác Chúa mở ra. Hai đứa con nhỏ của con khi lớn lên Chúa sẽ xếp đặt cho chúng gặp những điều tốt lành may mắn để bù lại sự thiếu thốn của người mẹ. Con cứ tin như thế thì con sẽ có cái tâm an.

Út khóc lặng lẽ, nhưng Út gật đầu.

Hai mẹ con cầm tay nhau cùng đọc lời cầu nguyện, cùng thổn thức. Điều khó khăn trong lồng ngực tôi đã mang ra chia sẻ được với con. Tôi tin là ít nhất trong khoảng khắc ngăn ngủi này Út thấy lòng thanh thản hơn một chút. Tôi ra về, ngực tôi có nhẹ hơn một chút, nhưng lòng tôi vẫn đau như cắt. Đối diện với sự mất mát quá nghiêm trọng này quả thật không dễ, vì chẳng làm thế nào mà đặt một cái gì đó có thể thay thế vào cái ghế trống của đứa con thân yêu trong gia đình sắp rời bỏ.

Không có Út, tôi gục mặt vào tay lái để mặc nước mắt mình chẩy ra đầm đìa. Con đường tôi đang đi lá vàng vẫn rơi và gió vẫn thổi nhè nhẹ như là không thổi.

Út ơi chiếc lá nào sẽ là con!

Mẹ Tú

Nov.11/2017

Saturday, November 4, 2017

NHƯNG ANH ĐÂU RỒI

Thứ Ba, 31 tháng 10, 2017

Đại sứ Mỹ Ted Osius và Tổng Lãnh sự Mỹ Mary Tarnowka 
thắp hương tại Nghĩa trang Biên Hòa, ngày 24/10/2017. 
(Ảnh: Facebook Mary Tarnowka)

Có một điều tốt đẹp sắp xẩy ra
những tan vỡ có bàn tay hàn gắn
cỏ chết khô sẽ tìm về mọc lên
cây gục ngã cũng được mang trồng lại
mỗi ngôi nhà sẽ một con số mới
đường tới thăm anh đẹp như đường làng 

Nhưng anh đâu rồi em tìm không thấy ?

Nhang mới được thắp lên ngày hôm qua
hương khói đó có bay vào mắt khép
những lóng xương của anh còn đủ không
chiếc thẻ bài còn mang mang thiên cổ
rễ cây nào như nòng súng đâm ngang
có xuyên qua những bức tường áo quan
cho anh thêm vài ba thương tích mới

Bao hứa hẹn cho điều tốt đẹp tới
nước mắt nào rửa sạch những vết thương
tình yêu nào băng bó hết tủi hờn
ai nhớ thổi cho bay mùi thuốc súng

Nhưng anh đâu rồi em tìm không thấy?

Hãy đứng lên hãy chống nạng bước ra
với bộ ngực gầy như chiếc lồng chim
những chiếc nan xương có trái tim nhỏ
trái tim khốn khổ vẫn đập nồng nàn
trái tim anh vẫn đập nhịp bao dung
giọt máu đỏ nhỏ trên mồ hoang phế.

Nhưng anh đâu rồi em tìm không thấy?

tmt – Tháng 10/29/2017


(Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã chính thức chấp nhận nguyện vọng và đề nghị của VAF vì vậy vấn đề trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa đã được đặt thành vấn đề thảo luận của hai quốc gia Hoa Kỳ và Việt Nam. Báo Người-Viet,ngày 24/10/2017)

Saturday, October 14, 2017

NGƯỜI KHÁCH Hàng Năm

Cứ mỗi khi đổi mùa, từ mùa Hạ sang Thu hay từ Thu vào Đông là người khách đó tới.

 Bạn có thể đoán người khách đó là một người đàn ông và không hiền lành gì. Anh ta có thể tự nhận là người quen lâu vì năm nào anh ta cũng tới, ít nhất là một lần. Tuy vậy tôi không thể nào thân thiện với anh ta được.

Anh ta chẳng hẹn hò bao giờ cả. Có khi nửa đêm thức dậy, bước chân xuống giường thấy anh ta sừng sững trước mặt như đã vào nhà mình từ bao giờ. Hoặc có hôm sau một buổi lễ sáng ra, đi ngang sân nhà thờ lộng gió ra bãi đậu xe về tới nhà đã thấy anh ta.

 Anh ta xô cửa bước vào, chẳng hỏi han, cũng chẳng gõ cửa, anh tỉnh bơ sự hiện diện của tôi, thế là lồng ngực tôi nhói đau vì tức. Anh bước ngược lên nhà trên, cuống họng tôi rát, bắt đầu tôi cất tiếng ho, anh mặc kệ, bước thẳng thêm vài bước nữa, lên lầu, vào phòng làm việc của tôi, lục lọi, làm tôi nhức đầu, anh đánh đổ chai nước, tôi hắt hơi, xổ mũi. Cả ngôi nhà của tôi phải chịu đựng người khách khó chịu này.

 Thật ra ngôi nhà này khá cũ kỹ, nó được dựng lên cả bẩy chục năm rồi chứ mới mẻ gì, mặc dù tôi có bảo trì, mái và tường thỉnh thoảng được quét vôi thay ngói, kính cửa sổ được lau chùi, gọi thợ xem chừng đường nước, giây điện, khám máy điều hòa. Bảo trì thì có đấy, nhưng làm sao đi ngược lại với thời gian. Tôi chẳng thể kéo nó xập xuống rồi thay bằng ngôi nhà khác vì cái nền nhà này không cho phép làm nhà mới, tôi không phải chủ đất, cha mẹ tôi chỉ thuê phần đất này và dựng ngôi nhà cho tôi. Mà cha mẹ tôi cũng chẳng còn nữa mà săn sóc ngôi nhà. Khi tất cả bỏ đi, kể cả tôi thì trên nền này sẽ có một ngôi nhà mới, một chủ mới.

Anh ta đi lên, đi xuống, từ phòng khách, phòng ăn, căn bếp. Anh tự tung tự tác, cầm cái này, vứt cái kia. Cả căn nhà rối tung xoay tròn vì anh ta. Sự bất an từ nóc nhà đến nền móng nhà. Bắt đầu là cái mái rung rinh, rồi hai cái đà ngang hai bên thõng xuống không chịu nổi sự giao động. Buồng ăn, buồng khách, nhà bếp trống rỗng buồn xo vì thực phẩm không được mang vào khi có bóng anh ở đó. Hai cây cột chính chống đỡ cho ngôi nhà cũng muốn khụy xuống đầu hàng anh. Tôi bất lực nhìn ngôi nhà của mình, nhắm mắt lại, buông xuôi. Tôi chỉ biết chờ anh ra khỏi nhà.

 Hình như anh rất thích thú những lần thăm viếng, vì khi anh tới tôi chỉ biết đứng hẳn ra ngoài nhìn vào ngôi nhà của mình xem anh tự tung tự tác thế nào, tôi khó lòng can ngăn được cho dù tôi có làm đủ cách, từ đe dọa đến nuông chiều.Thời gian anh ở ít nhất từ một tuần đến mười ngày. Có năm anh đi được vài tháng bỗng đột ngột quay lại, tôi chỉ biết kêu Trời.

Người khách đó sắp xô cửa vào nhà bạn rồi đó.

tmt
viết trong những ngày bị cảm cúm
10/12/17


Saturday, October 7, 2017

Đưa Em Xuống Phố

Sáng nay đầu thu anh đưa em xuống phố/ gió xôn xao trên vòm cây, nắng ấm áp và không gian trong vắt/ mình dắt nhau trên những phố đông người/ Cái xe đi qua, cái xe dừng lại/ tiếng chào nhau khi chạm mặt bước qua/ vỉa hè có lá vàng lá nâu đuổi nhau mỗi khi gió tới/ người mù dắt con chó đứng đợi đèn xanh/ con chó nhìn ngọn đèn/ ngọn đèn nhìn con chó/ đi chậm thế nào thì gió cũng kéo đi nhanh.

Mình đi trên đường số 1/ ghé tiệm ăn gọi miếng bánh mì bẻ làm hai/ ly nước lọc/ đĩa rau xanh/ khoai chiên vàng/ màu đỏ lát cà chua/ đời giản dị như bức tranh giản dị/ Nắng rất mỏng ấm trên tóc trên vai/ tiếng ai gọi nhau vang qua con phố/ nghe như vọng từ sau khu chợ bán hoa/ mùi cà phê thơm lừng trên tay một kẻ mới đi qua / anh ta vừa đi vừa nhấp từng ngụm nhỏ/ Có tiếng đàn bật lên cùng tiếng hát của hai người du mục/ Chao ôi là mùa Thu.

Anh dắt em tới đường số 2 có ngôi giáo đường /giáo đường không có tháp chuông vì trên đó có phòng ốc cho người trú ngụ/ người trú ngụ ở đây là những người ngác ngác ngơ ngơ/ những người già có cái nhìn trẻ thơ hay trẻ thơ có nụ cười của trái táo khô/ cả nguyện đường yên lặng / Đức Mẹ đứng như đang nửa tỉnh nửa mơ/ bình hoa màu tím trong nhà thờ ai cắm đẹp như một bài thơ /Em nghe hồn thổn thức/ Giữa nhà thờ có hồ nước nhỏ/nước chẩy hiền hòa chẩy xuống chẩy lên/ chung quanh miệng hồ tay ai đã khắc xuống lời  kinh thánh/Khi con vượt biển Ta sẽ ở bên con/và qua cả những dòng sông/ không ai đàn áp được con. (*)

Anh nói cho em nghe những người sống ở trong nhà thờ là những người nghèo và yếu đuối/ Chúa thương nên Chúa dọn họ vào ở chung/ em có thấy ngoài kia, trên ghế có người nằm quấn cái chăn / hai bàn chân gầy thò ra bên dưới / anh nói, Chúa đấy/ Chúa nằm ngoài này vì Chúa nhường chỗ cho một ai đó/ em đứng nhìn người nằm quấn chăn trước cửa giáo đường/ cố tìm ra mắt ra môi cố tìm ra một điều gì liên quan đến Chúa/ nhưng em đoán là anh chỉ nói cho vui/ em lắc lắc cái đầu vì nhìn cách nào cũng không ra Chúa.
Anh chỉ xuống đôi bàn chân thò ra/ Chao ôi, em thấy rồi/ trên lưng mỗi bàn chân có vết cắt mở khá to/ em còn đang ngẩn người nhìn xuống âu lo/ bỗng một người da đen ở đâu đi qua/ anh ta vừa đi vừa vung hai bàn tay lên xuống nói mà như hát/ Chúa đấy, Chúa đấy sao không nhận ra.


 Homeless Jesus – Tượng đồng của Timothy Schmalz- Canadian Sculptor

Đây là dấu tích để người ta nhận ra Chúa/ Chúa chẳng khác gì tất cả những anh em không nhà/ cũng co ro nằm trên băng ghế ngoài công viên /một tấm chăn một hình hài ốm yếu/ chẳng có thêm tài sản nào bên cạnh /ngoài sở hữu hai bàn chân bị tàn phá bởi đóng đinh.

Ta luôn ở giữa các con/những con người nghèo khổ yếu đuối.

Hôm nay anh đưa em xuống phố/ cho em gặp mùa Thu với lá vàng rơi nghiêng trong nắng / đọc lời Chúa nhắn nhủ bên hồ nước/ thấy hoa tím trong nhà thờ thấy chiếc đàn ngoài phố/ em hân hoan nhặt được một mảnh đời giản dị của hai ta/ và em đã hạnh phúc chạm tay lên hai bàn chân thương tích của một kẻ không nhà.

Hai bàn chân đó là chân của Chúa.

tmt
Tháng 10/06/17

(*) When you pass through the waters I will be with you and through the rivers they shall not overwhelm you.   Isaiah 43:2 


Wednesday, October 4, 2017

cả hồn em chớm đỏ


Bài thơ cho ngày Trung Thu

Em mở lòng bàn tay
anh đặt vào mùa thu
bàn tay thành chiếc lá
chỉ tay nhòe sương mù

em bước đi ngập ngừng
hình như sỏi đang hát
ngón chân lắng tai nghe
đất bắt đầu hòa nhạc

ở trên núi có trăng
một mặt trăng rất lạ
như một nong tầm vàng
những lá dâu óng ả

ở dưới hồ có cá
vẩy của chúng màu hồng
từng cặp mắt màu xanh
rơi ra những viên ngọc

trong tóc em chùm lúa
đang trổ hạt đòng đòng
cổ em thơm mùi cốm
rắc xuống những trái hồng

em mở lòng bàn tay
anh hà vào hơi thở
mùa thu bay lên cây
cả hồn em chớm đỏ.

tmt
Rằm tháng Tám

Oct.4/2017

Monday, October 2, 2017

Thư gửi các bạn thời trẻ dại

Thư gửi các bạn thời trẻ dại
(Trường Tiểu Học Thạnh Mỹ Tây II-Thị Nghè)

Các bạn rất cũ. Lâu quá không gửi thư cho nhau, có lẽ cũng do chúng mình ở xa nhau quá, tuổi mỗi ngày một nặng thêm nên lười, rồi lúc nhớ lúc quên, cứ nói sẽ viết, tiếp theo là sẽ quên. Hôm nay bỗng nhớ đến các bạn, và thấy cần phải viết để chia sẻ với các bạn một điều mà chúng ta đã và vẫn chia chung. Cả hai tuần nay từ lúc bắt đầu chiếu phim về Chiến Tranh Việt Nam trên truyền hình, tôi nhận được rất nhiều bài viết, nhiều phản ứng về bộ phim này.

Chúng mình là bạn từ thời Tiểu Học 1954, theo cha mẹ chạy Cộng Sản vào Nam. Đi ra từ chiến tranh, sống trong chiến tranh, rồi lại chạy ra khỏi chiến tranh. Chặng đường hơn 20 năm thật quá dài, nhưng khi đã hết chiến tranh (ít nhất là với chúng mình), sống rải rác trên địa cầu hơn 40 năm thanh bình, vẫn chưa thoát ra khỏi hai chữ “chiến tranh”.

Đọc những bài viết nhận định về bộ phim 10 kỳ liên tiếp này. Nhiều người phân tích rành rọt về Cộng Sản, về Quốc Gia, về Đồng Minh Mỹ rất chi tiết, rất tỉ mỉ. Dù phân tích đó rất nông cạn hay rất thuyết phục, nhưng cuối cùng còn lại hai chữ “Chiến Tranh”, dù nhìn bằng góc cạnh nào chăng nữa cũng vẫn đau lòng.
Những con số người chết cho cuộc chiến này, con số trận đánh hai bên, con số những trận bom rải thảm. Con số người chết trong “Trại Cải Tạo”, chết “Vượt Biên Giới” chết “Vượt Biển” và Đồng Minh chết cho đất nước bạn. Có cố nói thế nào, biện minh ra sao, thì cái phần đau đớn hậu quả đó không lấy bất cứ “lý lẽ” gì mà cứu vãn được. Chỉ có thể kết luận là “rùng mình”

Cái hậu chiến tranh giống như khói hun vào phổi chúng ta, không thể nào lấy ra được. Chúng ta sống với buồng phổi đó cho đến lúc chết .

Chiến tranh Nam - Bắc Việt Nam dù được suy diễn cách nào, dù đặt tên cuộc chiến là gì ta cũng thấy rõ ràng là “Huynh Đệ Tương Tàn”. Những người lính sau một trận chiến, chết nằm úp mặt, lật lên máu đỏ da vàng, nếu còn thoi thóp sẽ nói cùng ngôn ngữ với ta. Cộng Sản hay Quốc Gia lúc đó chỉ còn trơ ra một hình hài “Việt Nam” khốn khổ. Ta chỉ còn biết thốt lên:

“Trời ơi những xác thây la liệt
Con ai, chồng ai, anh em ai?” (Tô Thùy Yên)

Từ lúc nào chúng ta đã khóc cho chiến tranh và chúng ta sẽ lại phải khóc vì chiến tranh vào lúc nào nữa, trong khi thế giới càng ngày càng hoảng loạn, căng thẳng. Có thể chúng ta không còn cơ hội khóc nữa vì chúng ta đã quá già nua và sắp ra khỏi đời sống, nhưng con, cháu, chắt chúng ta liệu có bình yên mãi được không?

Tôi nhớ lại một bài Thơ khóc con của Rudyard Kipling, nhà văn, nhà Thơ người Anh nổi tiếng với cuốn tiểu thuyết cho trẻ em,The Jungle Book(1894), con trai ông, Thiếu úy John Kipling của quân đội Anh đã tử trận trong Trận Loos, ở vùng Artois của Pháp trong Đệ I Thế Chiến và không tìm thấy xác. Ông không khóc riêng cho con trai mình, mà cho tất cả những người con đã hy sinh trong Đệ I Thế chiến (*)

That flesh we had nursed from the first in all cleanness was given…
To be blanched or gay-painted by fumes – to be cindered by fires –
To be senselessly tossed and retossed in stale mutilation
From crater to crater. For this we shall take expiation.
But who shall return us our children?

Da thịt con tinh khiết
Cha mẹ nuôi ấu thơ
Khói đã nhuộm xám đen
Bom đốt thành tro bụi
Xác con ném qua lại
Trên những hố những hầm
Xác con đã nổ tung
Chúng ta sẽ đền bù
Những điều đã xẩy ra
Nhưng ai sẽ trả lại
Con thân yêu cho ta (tmt dịch)

Người chồng chết, người vợ trẻ còn đàn con nhỏ để tìm niềm an ủi trong vất vả hy sinh. Người con chết, cha mẹ không tìm ra điều gì thay thế vào được.

Có người nói “Bộ phim Vietnam War chỉ cốt chống chế cho thể diện của Mỹ hơn là sự trung thực cho cuộc chiến.”

Hãy đọc một bài Thơ về sự trung thực trong cuộc chiến này của Kyle Schlicher (USMC 5/15/1968) Một người lính trong quân đội Đồng Minh Mỹ.

They Didn't Know
he lay there
under the sun
dried blood on his lips.
the heat was oppressive.
his clothes were dusty,
dark blotches on them.
i could see the ants
moving,
entering him
and
exiting him.
how i hate this place!
how i hate the people
who are responsible
for all this unbelievable madness.
how i hate myself
for volunteering to be here!
i watched the ants crawling
over the body.
i wanted to hate them too!
but
they didn't know
and
the hating
had to stop somewhere.

Chúng Chẳng Biết Gì Đâu

chàng nằm đó
dưới mặt trời
máu khô trên môi
sức nóng nung người
quần áo chàng bẩn thỉu
bầm đen từng mảng
tôi thấy những con kiến
chuyển động
chúng vào trong chàng
rồi
ra khỏi chàng
sao tôi ghét nơi này thế
sao tôi ghét mấy người này thế
mấy người có trách nhiệm
cho những điên cuồng không tưởng
sao tôi ghét cả chính tôi thế
sao lại tự nguyện tới đây
tôi nhìn những con kiến bò
qua lại trên xác chàng
tôi muốn ghét luôn chúng nữa
nhưng
chúng chẳng biết gì đâu
cái sự ghét này
phải chấm dứt ở một nơi nào đó.

Hai đoạn của hai bài thơ tiếp theo, của người lính miền Nam và một của người miền Bắc.

Hình như cây súng con lạ lắm
Sao nó run lên khi đạn lên nòng
Tâm hồn nó như tâm hồn con vậy
Một kẻ nằm, kẻ đứng, xót xa không ?
Trước mặt con: những ngọn đồi cát máu
Đêm thì thầm cùng những nấm xương
Ôi, trái tim con mãi tôn thờ Má
Đã dạy con hai tiếng yêu thương.

(Nguyễn dương Quang trong bài Đêm cuối năm viết cho Má )

Buổi chiều sau chiến tranh
Ngày trở về
anh đi lệch một bên
Một ống quần
phất phơ trong gió...
Bà mẹ nghèo lẩy bẩy
Ra ngõ đón con
Con dìu mẹ, mẹ dìu con
Hai dấu chấm khép chiều nắng lửa...! (Trần Sĩ Tuấn)

Các bạn của tôi ơi! Ngày 23 tháng 10 này tôi sẽ nhận lời mời của Thư Viện Seattle đến nghe bà Lynn Novick nói về công việc làm một cuốn phim về chiến tranh thế nào. Tôi sẽ đọc một bài thơ về cảm nghĩ của mình khi xem phim về chiến tranh (Theo yêu cầu của Thư Viện). Tôi sẽ không dự buổi bình luận về cuộc chiến trong phim, đó không thuộc khả năng hiểu biết của tôi, vì ngay cả Ken Burns và Lynn Novick những người hàng đầu về làm phim chiến tranh đều thừa nhận “Cuộc chiến Việt Nam” là chủ đề khó khăn và phức tạp nhất mà họ từng thực hiện khi có quá nhiều luồng quan điểm, quá nhiều cách nhìn nhận từ các đối tượng khác nhau. Khi được hỏi vì sao lựa chiến tranh Việt Nam, mở lại những hồi ức đau thương và tranh luận cay đắng không có hồi kết, hai đạo diễn cho rằng “Việt Nam” vẫn là công việc còn dang dở của nước Mỹ. Không có ai thực sự hiểu cuộc chiến đã xảy ra thế nào và những người trải qua nó phải chịu đựng ra sao.
(Trích: Nghiencuuquocte.net)

Đến bao giờ nước Mỹ mới hết những công việc dang dở này trên thế giới?
Những người bạn thời “Tiểu Học” của tôi. Những: Nam, Giáo, Tâm, An, Hà 1, Hà 2, Bình, Hạnh, Giao ơi! Hãy yêu thương Việt Nam mình với trái tim của thời tuổi dại, hãy cố quên đi những người thân yêu trong gia đình mình, những người bạn của mình đã chết ở Bắc hay Nam, vì AK-47, vì B-40, hãy cố tha thứ và thương yêu như trong một câu Thơ của người góa phụ trẻ miền Nam đã viết:

Anh tặng em mùi máu
Trên áo trận sa trường
Máu anh và máu địch
Xin em cùng xót thương.(tmt)
Trần Mộng Tú


(*) Joshep Rudyard Kipling 1865-1936- Nobel Văn Chương 1907
9/30/2017