Friday, February 16, 2018

Anh Hãy Cùng Em Về Với Tháng Giêng

Thơ Trần Mộng Tú

Em mở cửa đón ngày đầu của tháng Giêng/có vạt nắng len vội vào cánh cửa/câu thơ dán trên mặt giấy điều còn thơm mùi nhang đêm giao thừa/ Mùa xuân đang chao nghiêng bên hồ/ đất trời lồng lộng lòng người mang mang/ nheo mắt lại nhìn quê nhà xa tắp/em muốn thổi mùa Xuân về bên ấy/để mùa Xuân xóa đi những ký ức không vui/ Năm mươi năm một bình mực đen đổ trên trang sử Việt ngậm ngùi/người ta vẫn khuấy lên rồi nạm vàng bằng những điều giả dối.

Em thắp thêm nhang cho thềm trước vườn sau/ cầu xin cho đất quê nhà đất quê người an lạc/cầu cho anh cầu cho em và cho con cháu chúng mình/ sống từng ngày là những con người lương hảo/ từng ngày nói lời chân thật/ từng ngày lấy lòng hiền mang tặng cho nhau/ con cháu chúng ta được sống và lớn lên như tre trúc/ tính thẳng ngay và ruột rỗng oán thù/ em và anh khi về với mẹ với cha cũng sẽ mang theo hành trang là hai bàn tay trắng mở/ nếu có nắm vào, chỉ nắm một câu Thơ.

Anh ơi tháng Giêng đang cùng em mặc cả/ em xinTháng Giêng cho em một hộp phấn đủ màu để em tô lên má và rắc lên tóc trắng/ để em nhuộm ngày hồng nhuộm tháng xanh cho cả kẻ dữ người hiền/ cả nhân gian em vẽ vào một bức tranh yên/ đường ranh giới bị nhòe dưới phấn. Tất cả sẽ sống trong một ngôi làng Hạnh Phúc.

Tháng Giêng đang xin nắm tay em dắt em cùng trở về thời xa xưa ấy/ bàn chân em đã bước cao bước thấp/ nhưng tay em vẫn cầm một cành đào có bài thơ của Vũ Đình Liên.

Anh hãy cùng em về với tháng Giêng.

tmt
Mồng Một tháng Giêng Mậu Tuất
Ngày 16/2/2018

Saturday, February 3, 2018

CHIẾC GHẾ TRỐNG (tưởng nhớ Trần Văn Nam)


Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2018


Hiên Café Factory, từ trái : Vương Trùng Dương, Trần Yên Hòa, 
Đạm Thạch, Thành Tôn, Trần Văn Nam.

Hôm nay tôi đến sớm nhất, kéo cho mình một chiếc ghế ngồi xuống chờ các bạn. Sáng chủ nhật của ngày mùa đông đất trời se lạnh, một chút nắng yếu ớt còn trốn trên ngọn cây. Tôi mặc áo khoác thật dầy mà vẫn lạnh. Quán cà phê đã bắt đầu đông, tiếng ly tách chạm nhau khe khẽ trên quầy nghe thân mật ấm áp, mùi cà phê đã thơm nhè nhẹ trong không gian.

Quán này là nơi hẹn của chúng tôi, một nhóm nhỏ của nghững người bạn văn nghệ. Chúng tôi hẹn nhau không thành lời, cứ sáng chủ nhật ai không vướng bận gì thì tới đây, ai tới được thì tới, ai bận việc riêng thì thôi. Có khi năm sáu người, có khi ba bốn người, thậm chí có khi chỉ hai người gặp nhau thôi. Đã có một lần tôi tới đây một mình, chờ mãi chẳng có ai, tôi định về, nhưng mùi cà phê quyến rũ quá, tôi cũng kéo ghế ngồi xuống cái góc quen thuộc, gọi cho mình một ly cà phê ngồi nhâm nhi, nghĩ ngợi bâng quơ:

Cứ tới, cứ ngồi xuống, dù một mình, cứ làm thành một cuộc gặp mặt với cà phê. Đã sao! Cứ ngồi xuống và nếu ai đó bất ngờ tới, khi gặp mặt nhau, mùa đông cũng thành mùa xuân.


Bình minh đẹp, trời tiết xuân
Những người ngồi quán cuối tuần có nhau
Đến vui, chẳng mong gì đâu
Những cố chấp tránh, những sầu bỏ đi
  (*)

Nhà hàng đã nhớ khách, và khách cũng nhớ nhà hàng. Chỉ cần nhìn mặt, nhà hàng nhận ra ngay ông khách này thích uống ly cà phê pha cách nào. Cả hai cùng hài lòng về mối thâm giao giữa nhà hàng và khách. Đôi khi có bạn văn từ xa ghé thành phố cũng được bạn địa phương mời tới họp mặt buổi sáng cà phê ở đây. Bạn xa tha hồ mà trầm trồ mà nhớ mãi.


Trần Văn Nam là người đứng duy nhất. Ngồi, từ trái: 
Phạm Phú Minh, Nguyễn Đình Thuần, Aki, Nguyễn Tường Thiết, 
Phùng Minh Tiến, Thành Tôn.


Các bạn của sáng chủ nhật hôm nay đã kéo nhau tới dần, cũng được đến tám người, kể cả tôi nữa. Họ ngồi xuống, gọi cà phê cho nhau. Họ không nhìn thấy sự hiện diện của tôi. Nắng đã lên và hai bàn tay tôi đã ấm. Tôi tự bắt tay mình, tôi xoa hai bàn tay mình vào nhau, nghiêng tai nghe các bạn nói chuyện.

Họ nói về những ngày cuối năm, về cái tết sắp tới, về mùa đông năm nay lạnh hơn những năm trước, về bệnh cúm đang vào thành phố. Tôi yên lặng ngồi nhìn các bạn, nhìn màu cà phê đậm đặc, yên lặng nghe tiếng muỗng chạm vào thành ly, yên lặng nghe các bạn nói về một người bạn mới ra đi tuần trước.

Một người bạn, rồi một người bạn kế tiếp, họ rơi xuống như chữ rơi xuống một câu thơ. Cần bao nhiêu chữ đễ hoàn thành một câu thơ! Những câu thơ viết xuống mùa đông của đời người.  

Cà phê bốc khói mơ màng
Bãi xe, mùa bớt lá vàng phong sương
Bầu trời trụ nét mây vương
Cõi người, ai nhớ đời thường hôm nay!
  (*)

Nhớ nhau chứ, những người bạn này mãi mãi nhớ nhau. Họ ngồi với nhau những sáng chủ nhật tại quán này và tôi đã từng là một thành viên trong nhóm bạn này.

 Một người đến trước, ngồi đó, khi có bạn tới, họ đứng lên, kéo chiếc ghé bên cạnh mình, vồn vã, tranh nhau mời: ngồi đây, ngồi đây, ngồi cạnh tôi này. Họ vồn vã như thật lâu rồi không gặp lại nhau. Tiếng ghế kéo ấm áp cả mùa đông. Họ nhìn nhau qua những sợi tóc bạc, những vệt đồi mồi trên má, những vết nhăn đuôi mắt. Chẳng thấy gì cả ngoài “một người bạn” đã thấm đẫm thuốc nhuộm thời gian.

Một chiếc ghế trống, một ly trà được rót ra cho tôi thay vì một tách cà phê. Tên tôi được nhắc tới. Có ai nhìn thấy tôi đâu, tôi cầm ly trà lên uống một ngụm nhỏ, không cảm nhận được vị trà trên môi gì cả, hình như tôi uống vào một hớp không khí, tôi nhìn từng khuôn mặt bạn hữu chung quanh, mặc dù tôi biết đã gặp họ ở đâu đó trong một quãng đời nào đó, sao bỗng dưng trở thành xa lạ, tôi bỗng thấy mình cô đơn lạc lõng.

Những người bạn chung quanh tôi bắt đầu nói chuyện. Họ nói lao xao, tiếng nọ chồng lên tiếng kia. Rồi cuối cùng họ hỏi nhau.

 Ai sẽ là người tới đây sau cùng. 

Tôi thấy thương cho tất cả bạn mình. Tôi muốn được ở lại với họ, tôi cũng muốn rủ họ đi với tôi. Mà thôi, nơi tôi tới cũng còn mới mẻ quá, tôi vẫn còn lang thang đi tìm những người bạn cũ đã bỏ đi trước tôi, tôi đi gõ từng cánh cửa vô hình.
 

Một đời người nào khác chi một khúc sông của dòng sông. Bắt nguồn từ đâu và kết thúc ở đâu? Nào ai biết. Nhưng thật sự chúng ta có cần biết không? Con sông có bao giờ tự hỏi mình về cái điều đó, nó chỉ cần có mặt và trôi đi, trôi đi…
 
Dòng sông không phải bắt nguồn từ không gian
Của bình nguyên tuyết trắng
Qua rừng núi bạt ngàn
Dòng sông đã bắt nguồn từ thời gian
Do tình thương quá khứ 


Do muôn trùng kỷ niệm miên man.  (*)
 
Ai đó vừa cầm ly trà đã rót để trước mặt chiếc ghế trống, kêu lên:

“Ồ, anh chàng đã cạn chén trà rồi!”
 
Tôi đã đến và tôi hiện hữu. (-)
 
Trần Mộng Tú

1/29/2018

(*) Thơ Trần văn Nam

(-) Dựa theo câu nói: Je pense donc je suis - Descartes (Tôi suy nghĩ tức là tôi hiện hữu)

Wednesday, January 31, 2018

Tôi là ai ?

Bài TÔI LÀ AI của Trần Mộng Tú đã in trong Mưa Sài Gòn Mưa Seattle- nxb Văn Mới- 2006 (trang 139) xuất hiện trên hai đường Link dưới đây với TÊN TÁC GIẢ MỚI (!)





“Tôi là ai mà yêu quá đời này”
(Trịnh Công Sơn)

Có phải nếu mình ở một nơi nào trên dưới ba mươi năm thì mình là người thuộc địa phương đó, đúng không? Đã biết bao nhiêu lần tôi đặt ra câu hỏi đó sau một ngày nhìn vào lịch thấy con số ghi năm đã bước vào năm thứ ba mươi của một người tị nạn. Bây giờ có ai mới quen gặp tôi, hỏi: Bà ở đâu đến vậy? Thì chắc tôi sẽ trả lời rất tự nhiên là “Tôi ở Seattle”, hay khi đang đi du lịch thì sẽ trả lời “Tôi từ Mỹ đến”. Tôi sẽ không trả lời là tôi ở Việt Nam đến nữa, chỉ trừ khi người ta hỏi bà là người nước nào? Thì lúc đó tôi chắc chắn nói “Tôi là người Việt Nam”. Để cho họ không nhầm với người Trung Hoa, người Nhật, hay người Phi.

Đúng, tôi ở Mỹ trên dưới ba mươi năm rồi, tôi là một người Mỹ. Bây giờ thử xem lại con người Mỹ của tôi. Trước tiên mặt mũi, chân tay tôi chẳng có gì thay đổi cả. Vẫn khuôn mặt cấu trúc ít góc cạnh của người Á Đông, cái mũi khiêm tốn, tóc sợi to và đen, khi có tóc bạc thì nhìn thấy ngay, muốn giấu thì phải nhuộm. Đối với người Á Đông thì tôi được gọi là người có nước da trắng, nhưng mầu trắng này thực ra là mầu ngà, và đứng cạnh một ông Tây, bà Mỹ nào thì nó vẫn cho cái căn cước da vàng rất rõ rệt. Khi tôi nói tiếng Anh thì cách phát âm có vấn đề, nếu nói nhanh quá thì sẽ vấp phải lỗi nói tiếng Anh theo cách dịch tiếng Việt trong đầu. Như thế bị chê là nói tiếng Anh bể (Broken English). Về cách phục sức, nhà ở, xe cộ… bên ngoài tôi có thể không kém một người Mỹ chính gốc. Nhưng khi bước vào nhà tôi thì hoàn toàn khác: Từ những bức tranh treo ở phòng khách, bát đũa bầy ở bàn ăn, chai nước mắm, hũ dưa cải trong bếp và nhất là sách, báo tiếng Việt ở khắp nơi trong nhà, thì chắc ai cũng sẽ nhận ra ngay đó là một gia đình Việt Nam. Như thế thì tôi là người Seattle hay người Hà Nội, người Mỹ hay người Việt? Tôi ở đất này đến ba mươi năm rồi cơ mà.

Người ở Lạng Sơn, Thanh Hóa ra Hà Nội ở trên dưới ba mươi năm thì tự nhận mình là người Hà Nội; người ở Hải Phòng; người ở Hải Dương vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 75, 76 tự nhận mình là người trong Nam.

Tôi ở Mỹ tìm về Việt Nam không ai chịu nhận tôi là người Việt nữa, dù tôi có yêu quê hương đến quặn thắt cả ruột gan. Có khi gặp lại họ hàng thăm viếng, hỏi han, nước mắt khôn cầm, thế mà thỉnh thoảng họ vẫn nói rất tự nhiên: Chị đâu có phải là người Việt nữa. Bây giờ chị là người Mỹ rồi, hay: Chắc cái này không hạp với chị, cái kia chị không ăn được, cái nọ chị không biết đâu. Những lúc đó tôi chẳng biết mình phải phản ứng thế nào cho đúng. Cứ cãi tôi vẫn Việt, hay nhận đúng rồi, tôi là Mỹ? Không, cả hai cùng sai cả. Những khi cần quyên tiền đóng góp vào việc công ích nào ở Việt Nam thì ai ai cũng nhắc lại cho tôi đến ngàn lần tôi là một người Việt Nam chính gốc. Tôi phải có bổn phận và tình thương với đất nước, đồng bào. Tình thương thì nhất định lúc nào tôi cũng đầy ắp trong ngực rồi, tôi chẳng cần ai nhắc nữa, nhưng bổn phận thì cho tôi nghĩ lại. Tôi đã đóng góp bổn phận của tôi cho đất nước đó rồi. Một mối tình chết tức tưởi trong chiến tranh hơn ba mươi năm về trước – xương thịt của người tôi yêu nằm trong lòng đất, rồi lại phải đào lên, đốt thành tro than, bị đuổi mộ như đuổi nhà – đã trả bổn phận đó thay tôi rồi. Chừng đó chưa đủ hay sao? Bây giờ tôi phải có bổn phận đóng thuế hàng năm ở đất nước tôi đang sống để phụ với chính phủ sửa đường, xây trường học và nuôi di dân, những người ở khắp nơi mới tới, như trước kia đất nước này đã nuôi người Việt, vì giấy tờ cá nhân hiện tại xác định tôi là người Mỹ. Tôi phải làm bổn phận công dân.

Có những ngày tôi lái xe bị kẹt ở xa lộ vào một buổi chiều mưa mùa thu hay một buổi sáng mùa xuân vắng lặng, êm ả đứng trong nhà nhìn ra mặt hồ, tôi mới cảm nhận được nơi mình đang hiện diện không phải là quê mình, không phải nước mình. Chẳng có một lí do gì cụ thể, chỉ là những giọt mưa đập vào kính xe, chỉ là mặt nước hồ gờn gợn sóng. Mưa trên xa lộ Mỹ nhắc nhớ đến những cơn mưa tháng Năm ở Thị Nghè, nhà mình hay ở Trần Quý Cáp, nhà anh hay ở trước rạp ciné Eden đứng trú mưa với nhau. Nước ở Hồ Sammamish trước nhà nhắc đến nước sông ở Bến Bạch Đằng mỗi lần qua phà sang bên kia Thủ Thiêm chơi với bạn, hay sóng nước ở bắc Mỹ Thuận những lần qua phà đi thăm họ hàng ở tận Bạc Liêu. Những lúc đó tôi chợt bắt gặp mình Việt Nam quá, vì những cái bóng Việt Nam thật mờ, thật xa lại chồng lên hình ảnh rõ rệt ngay trước mặt mình. Và kỳ diệu làm sao, những cái bóng đó nó mạnh đến nỗi mình quên mất là mình đang ở Mỹ. Thì đúng tôi là người Việt Nam.

Lại có những lần tôi ở Việt Nam, bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc, tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình ngày trước, hình như đã có điều gì rất lạ. Ngôn ngữ Việt thì thay đổi rất nhiều, pha trộn nửa Hán nửa ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là “ấn tượng”, nói theo cách dùng chữ khá phổ biến bây giờ ở Việt Nam. Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, đã thế họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.

Ngửng mặt lên nhìn bầu trời, vẫn bầu trời xanh biếc của thời tuổi trẻ, cúi xuống nhìn mặt đất, vẫn mặt đất thân quen, nhưng sao lòng hoang mang quá đỗi, và thấy đã có một khoảng cách nghìn trùng vô hình giữa mình và quê hương đất Việt. Chắc tôi là người Mỹ.

So sánh thời gian tôi sinh ra, sống ở Việt Nam và thời gian tôi bỏ Việt Nam ra đi, sống ở Mỹ hai con số đó đã gần ngang nhau. Tôi được học từ nhỏ rằng quê hương là nơi tổ tiên lập nghiệp, là nơi chôn nhau cắt rốn. Một bài hát phổ thơ nổi tiếng trong nước, có câu: “Quê hương mỗi người có một, như là chỉ một mẹ thôi”. Nhưng có người lại nói: Nơi nào mình sống ở đó suốt một quãng đời dài, có những người thân chung quanh mình, hưởng những ân huệ của phần đất cưu mang mình, thì nơi đó cũng được gọi là quê hương mình. Như vậy thì tôi có một hay hai quê?

Sống ở Mỹ thì bạn bè gặp nhau thường nói: Cái này người Việt mình không hạp, hoặc người Mỹ họ mới thích nghi được việc này, người Việt mình không quen. Khi đi dự buổi tiệc cuối năm của một công ty lớn ở Mỹ, toàn là những người Mỹ sang trọng thì thấy rõ ngay mình là người Việt đi lạc, dù mình có sang trọng, lịch sự như họ. Hóa ra ở Mỹ hay về Việt Nam mình đều lạc chỗ cả.

Tôi nhớ mấy năm trước có lần trò chuyện với mẹ của một người bạn, lúc đó cụ ngoài 80 hãy còn minh mẫn, cụ theo đạo Phật. Trưởng nam của cụ và con dâu cụ tự nhiên rủ nhau theo Công giáo. Gặp tôi cụ hỏi: Không biết anh Bình nhà tôi khi chết thì đi đâu? Phật giận anh ấy, vì anh ấy bỏ đi, Chúa chắc gì cho anh ấy vào, vì anh ấy mới quá! Năm nay cụ ngoài 90 tuổi rồi và may quá, cụ bị Alzheimer, cụ không còn minh mẫn để lo con mình không có chỗ dung thân cho phần hồn.

Bây giờ thỉnh thoảng nghĩ lại những lời cụ nói, thấy mình ngay ở đời sống này cũng đã là một vạt nắng phất phơ bay. Quê nhà, quê người, quê Mỹ, quê Việt. Chao ôi! Cái thân cỏ bồng.

Nhưng lạ lắm, tôi biết chắc mình là người Việt nhất là khi tôi nằm mơ. Trong giấc ngủ tôi thường gặp cha mẹ, gặp ngay trong những ngôi nhà cũ ở Việt Nam, gặp bạn bè cũng gặp trên đường phố Việt Nam từ ngày rất xa xưa, và bao giờ trong mơ cũng đối thoại bằng tiếng Việt. Tỉnh dậy đôi khi vẫn ứa nước mắt, dù là một giấc mơ vui. Thấy nhớ quê nhà quá đỗi!

Tôi nhớ lại trong những truyện ngắn, những bài thơ Đường tôi đọc thời rất xa xưa nói về những người bỏ làng đi xa lâu năm trở về không ai nhận ra nữa vì đã già. Hồi đó sao mà mình thương những người già đó thế! Bây giờ nghĩ lại thì người trong sách đó còn may mắn hơn mình, họ đâu có đi đến tận một nước khác như mình. Họ chỉ bỏ làng, chứ không bỏ nước. Thế mà khi về còn ngơ ngác, bùi ngùi, tủi thân vì lạc chỗ ngay trong làng mình.

So sánh tôi với người bỏ làng ra đi trong những trang sách đó thì hoàn cảnh của tôi đáng buồn hơn nhiều. Không những đã bỏ làng, bỏ nước đi, còn nhận quốc tịch của một nước khác.

“Khi về đổi họ thay tên
Núi chùng bóng tủi sông ghen cạn dòng.”
Tôi là ai?

Trần Mộng Tú
Tháng 4/2006

Monday, January 1, 2018

Mùa Xuân và Tóc



Đầu năm đi cắt tóc
ngồi trước tấm gương trong
tóc hay lúa trên đồng
sương muối ngày lập đông

người thợ cầm chiếc kéo
vào cánh đồng cuối mùa
nhìn gốc rạ sót lại
thương thầm hương lúa xưa

những sợi tóc rơi xuống
như những dấu chấm than
trong câu thơ ngắt đoạn
trang giấy vàng thời gian

cánh đồng  mùa xuân xưa
qua rồi mùa gặt hái
trong gương ngàn cánh vạc
đậu trắng cả hai vai.

tmt

Sunday, December 31, 2017

Friday, December 22, 2017

Cuối Năm Giấu Tuổi Trong Rau


Cuối năm em vào chợ
cầm lên bông cải xanh
như chùm hoa mới nở
của cuộc tình còn xanh

Chạm tay vào củ hành
 tròn như mặt trời vui
quay từng vòng luân vũ
qua những con dốc đời

Nhặt lên mớ rau lang
như cô gái dịu dàng
mặc chiếc áo xanh ngọc
gọi Tình Lang, Tình Lang

Những quả cà chua nhỏ
còn nửa chín nửa xanh
ngập ngừng như thiếu nữ
vừa biết gọi tiếng “anh”

Cuối năm em vào chợ
loanh quanh qua từng gian
những chiếc lon ngay ngắn
đứng như lính xếp hàng
những chiếc hộp chồng chất
chờ tay người hỏi han

 Cuối năm em vào chợ
 ngắm những người lao công
 xếp hàng lên, lấy xuống
 trong lòng có vui không
 rẽ qua khu đồ biển
 xăm xoi mớ cá hồng
 hỏi cá từ đâu tới
 có từ quê mình không
 Ôi những con cá nhỏ
 giạt tới bờ bến này
 có con nào nhớ nước
 như mình đang nhớ không

Cuối năm em vào chợ
mua một bó rau thơm
giấu tuổi mình trong lá
cho mình nhớ nhau hơn.

tmt
Dec.19,2017

Thursday, November 30, 2017

Ông Này không làm thơ


Những tháng cuối năm của Seattle rất nhiều mưa. Thỉnh thoảng mới có một ngày nắng ấm. Nhìn mưa nhớ ra những người bạn ở xa sắp tới chơi nguyên cả tuần, gặp mưa như thế này sẽ ngại và chán lắm. Tôi phải có sẵn mấy câu thơ để hối lộ. Chắc là sẽ vừa ôm vai vừa đọc ngay cho bạn khi ra đón ở phi trường.
Nắng ở đây hiếm hoi như hạnh phúc
Anh có về gọi nắng đến cho em
Anh có về mang theo chút tình riêng
Em sưởi ấm trong những ngày mưa bụi. 
(Gọi Nắng-tmt)
Hy vọng những người bạn yêu thơ được dúi cho vào tay mảnh giấy có mấy câu thơ này chắc sẽ bao dung với đất trời.
Tôi ngồi vào bàn viết, mở máy tính ra gõ xuống câu thơ. Cái máy tính mới được “đổi mới” mấy hôm trước để dùng cho những thảo chương quá cũ cần thay đổi hay bỏ đi. Mấy câu thơ hiện ra trên cái màn ảnh nhỏ:
Nắq ở đây hiếm hoi n’ư hạn’ fúc
An’ có về gọi náq đến co em
An’ có về maq weo n’út tìn’ riêq
Em sưởi ấm troq n’ữq qày mưa bụi
Tôi dụi mắt đọc lại. Đọc mãi vẫn không hiểu mình đang đọc một câu thần chú gì.
Hình như tiếng Việt trong máy của tôi đã bị một mụ phù thủy phá phách. Cái mụ mặc áo choàng đen đội một cái mũ nhọn, nét mặt rất ác và có cái mũi khoằm, cưỡi trên một cái chổi bay ngang mái nhà thường xuất hiện vào ngày Halloween để dọa trẻ con.
Tôi hốt hoảng vào ngay Google tìm bài thơ Vang Vang Trời Vào Xuân của Thanh Tâm Tuyền.
Mặt cời hồq n’ư chăq
Wức lòq ta buổi sớm
Zó núi wổi rộn ràq
Gọi qe biển đậy sóq
Đọc hai ba lần cũng không tìm ra được câu thơ nguyên tác ngày cũ.
Mặt trời hồng như trăng
Thức lòng ta buổi sớm
Gió núi thổi rộn ràng
Gọi nghe biển dậy sóng (Thanh Tâm Tuyền)
Bài Thơ này là bài Thơ tôi quý nhất trong những bài Thơ sau 1975 của TTT.
Hay là tôi đi tìm thi sĩ Mai Thảo. Thi sĩ này đã đem hình mình đặt trong tận “miếu đền” chắc mụ phù thủy áo đen đó không dám rỡn mặt.
Tôi trích một đoạn trong bài thơ dài của ông:
Ta wấy hìn’ ta n’ữq miếu dền
Tượq thờ qìn bệ n’ữq côq viên
Sao xôq xói với hươq sùq ki’n’
Đều qát wơm từ huyệt lãq kuên
Đọc đi đọc lại bốn câu trên, tôi thấy thương thi sĩ quá, chắc khi nào xuống California tôi sẽ ghé qua nghĩa trang tạ tội cùng thi sĩ vì không đuổi được mụ phù thủy áo đen để mụ bay cả vào đền thi sĩ có hình trong đó. Tôi sẽ đọc lại câu thơ nguyên thủy trước mộ ông:
Ta thấy hình ta những miếu đền
Tượng thờ nghìn bệ những công viên
Sao không, khói với hương sùng kính
Đều ngát thơm từ huyệt lãng quên 
(Mai Thảo)
Tôi viết thư cho các bạn, lục lọi những trang báo trên mạng thì mới biết là tiếng Việt “Tiếng Nước Tôi” đang bị một ông Tiến Sĩ muốn đổi mới.
À hóa ra không phải là một mụ phù thủy như tôi tưởng. Đây là một ông Tiến sĩ thật (không phải tiến sĩ giấy) Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Bùi Hiền, ông in thành sách đoàng hoàng và bài đã được đưa vào giới thiệu trong kỷ yếu hội thảo về ngôn ngữ học tháng 9-2017, do Hội Ngôn ngữ học VN và Đại học Quy Nhơn tổ chức.
Tôi tò mò tự hỏi: “Trong nước có bao nhiêu người hưởng ứng việc thay đổi cách viết mới này”. Báo Tuổi Trẻ trong nước, đăng bài của ông lên và kêu gọi ý kiến của độc giả. Chưa bao giờ có một con số góp ý nhiều như thế: 535 lời bình.
Tôi đọc thử một vài lời mà không nhịn được cười: Xin trích ra đây vài câu đọc cho vui mùa Xuân:
  1. Giờ mới hiểu tại sao chúng ta cần thêm 9000 Tiến Sĩ
  2. Ông này muốn ghi danh vào lịch sử đây
  3. Thần Kinh
  4. Cái này em thấy nó giống ngôn ngữ của tuổi teen trao đổi với nhau, thí dụ như o thik (không thích), wá đc (quá được) v.v... Nếu "thứ tiêq Việt" này được dùng, "ông Google" cũng chẳng thể dịch nổi loại "chữ" này.
  5. Mất thời giờ, vô ích.
  6. Ngoài ra toàn bộ dữ liệu về lịch sử Việt Nam cận đại và hiện tại (từ khi có chữ quốc ngữ) sẽ trở thành đồ bỏ đi do các thế hệ sau khi sửa đổi ngôn ngữ sẽ không ai khai thác được, nhiều công trình sẽ phải đục phá, sửa chữa, kinh phí thay đổi sẽ khổng lồ, quan hệ ngoại giao với các nước bị đình trệ.
  7. Ngày nay các nhà ngôn ngữ cấp tiến tại Trung Quốc cũng đã thừa nhận rằng việc dùng chữ giản thể đã khiến cho nhiều thế hệ cắt đứt với quá khứ, với văn hóa - lịch sử… 
  8. Ông Tiến Sĩ này có định xóa lịch Sử Việt để dần dần đồng hóa với Tầu không đấy ( Một ý kiến của độc giả trên mạng)
  9. Thay đổi cách viết tiếng Việt theo như đề xuất của cá nhân ông Bùi Hiền sẽ đe dọa, gây nguy cơ xáo trộn và đứt gãy tổng thể... trong các hoạt động của đất nước và của dân chúng.
Giả dụ cải tiến của Phó giáo sư, tiến sĩ Bùi Hiền thành hiện thực, không những Hiến pháp phải in lại, mà ngay cả đồng tiền, đơn xin việc, giấy kết hôn, thẻ căn cước, tên người, các danh từ riêng... đều phải sửa và in lại. (Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân)
Ở trong nước hiện nay số người có bằng Tiến Sĩ rất cao và con số này mỗi năm một tăng. Tiến Sĩ nhiều quá nên chắc các ngài phải nghĩ ra một điều gì rất lạ để đánh bóng học vị của mình và tìm đường vào văn học sử, hay chính những vị Tiến Sĩ này muốn cho những thế hệ sau không còn đọc được Lịch Sử Việt Nam. Đi xa hơn nữa, nếu chẳng may ‘Dự án điên rồ” này được chấp thuận, một ngân quỹ tiền tỉ sẽ được đề nghị chi ra cho việc in lại sách. Bao nhiêu sách cũ được in lại trung thực? Bao nhiêu tiền sẽ chi tiêu cho việc in sách và bao nhiêu tiền sẽ bốc hơi bay vào túi các ngài? Chỉ có Trời biết.
Cuốn sách đã được in ra: Ngôn Ngữ ở Việt Nam- Hội Nhập và Phát Triển (tập 1) Sách dày 2,200 trang do NXB Dân Trí phát hành.
Tiến Sĩ cũng cho chúng ta một bảng hướng dẫn để chúng ta đọc một chương dưới đây xem có hiểu gì không?
Sẽ bỏ chữ Đ ra khỏi bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành và bổ sung thêm một số chữ cái tiếng Latin như F, J, W, Z.
Bên cạnh đó, thay đổi giá trị âm vị của 11 chữ cái hiện có trong bảng trên, cụ thể: C = Ch, Tr; D = Đ; G = G, Gh; F = Ph; K = C, Q, K; Q = Ng, Ngh; R = R; S = S; X = Kh; W =Th; Z = d, gi, r.
Vì âm "nhờ" (nh) chưa có kí tự mới thay thế nên trong bản trên tạm thời dùng kí tự ghép N' để biểu đạt.
Thử đọc một bài viết bằng ngôn ngữ mới xem “Hàn Lâm” đến thế nào?
Tôi là người làm Thơ, tôi thật bối rối vô cùng. Nếu dùng loại ngôn ngữ “phù thủy” này chắc là trái tim tôi không cách nào theo kịp. Tôi nhớ lại cách đây hơn 20 năm, hồi tôi chưa dùng máy vi tính. Tôi viết tay một bài Thơ gửi đi, thư ký tòa báo sẽ đánh lại bỏ in.
Khi báo ra, câu Thơ của tôi chỉ sai một “dấu” đọc đã khác nghĩa rồi.
Câu thơ là : Trái tim tôi bi thương. Chữ “bi” in ra có dấu nặng thành “bị thương” Tôi mất ngủ ba đêm và thấy mình “bị thương” thật.
Bây giờ bắt tôi phải làm thơ với ngôn ngữ đổi mới này, chắc tôi phải thay nguyên tim, óc, mới và cả hai bàn tay mới. Tôi chắc ông PGS Tiến Sĩ Bùi Hiền này không đọc thơ bao giờ và chắc chắn không làm thơ rồi. Nếu có, ông đã chẳng nỡ đối xử với chữ nghĩa tiếng Việt như thế.
Trần Mộng Tú
28/11/2017

Saturday, November 11, 2017

Chiếc Lá Nào Sẽ Là Con

 

Cô cháu, con của em ruột tôi. Cô bị ung thư gan, chạy Chemo cả 7 tháng không có kết quả gì. Cục bướu ở trong gan vẫn càng ngày càng to ra. Bây giờ Bác Sĩ nói ngưng chạy Chemo vì không có hiệu lực, sẽ chuyển sang uống thuốc viên. Những viên thuốc này chỉ có tính cách kéo dài thời gian được ngày nào biết ngày đó.

Từ khi cháu bệnh tôi vẫn thỉnh thoảng nấu ăn cho cháu, vì cháu không còn thích thú gì trong việc ăn uống, nên mẹ cháu và tôi cứ phải nghĩ ra món gì lạ miệng rồi nấu chút một cho cháu nếm. Bố cháu thì xay đủ loại rau và trái cây thay đổi, nhưng cái gì cũng chỉ nếm một chút rồi thôi. Người cứ mỏng dần và da mặt xanh như lá. Nhìn cháu thương lắm mà không dám tỏ lộ ra mặt sợ cháu buồn.

Bác sĩ nói thời gian của cháu còn lại không nhiều. Cả gia đình đi chung quanh cháu, nhìn cháu, ôm cháu…Không làm thêm được điều gì giúp cháu. Vì không có cái gì hiện hữu để giành giật.  Đau lòng mà không dám khóc trước mặt cháu. Trưa nay tôi mang thức ăn sang nhà cháu. Con đường từ ngoài lộ chính vào tới nhà cháu qua một con đường đất nhỏ có cỏ úa và hai hàng phong hai bên. Nắng thu mong manh chiếu qua những tán lá nâu vàng, gió thổi rất nhẹ như không thổi. Tôi dừng xe lại và nước mắt trào ra. Con đường này sắp vĩnh viễn mất cháu. Rồi đây chồng con, cha mẹ, vẫn qua lại trên đường này, chỉ có cháu là rẽ sang một con đường khác. Cháu đi một mình. Tôi hình dung ra cháu đi tới cuối đường rồi mất hút, cháu có quay đầu nhìn lại nuối tiếc gì không? Chắc là có. Chồng đấy, con đấy, làm sao mà không nuối tiếc. Rồi còn cha mẹ, anh em, họ hàng, suốt bao năm làm người lúc nào cũng quấn quít nhau. Gia đình anh chị em tôi là một đại gia đình.

Từ lúc cháu sinh ra, lúc nào cô bé ấy cũng có những người thân yêu bên cạnh. Cô có tới 7 anh chị em, cô là Út. Cô có ba người mẹ. Mẹ sanh ra cô và hai chị của mẹ, cô cũng gọi là Mẹ. Gia đình chúng tôi không có ai là Bác, là Dì. Tất cả ba chị em đều là Mẹ của cả đàn con ba nhà cộng lại.

Làm sao tôi không đau khi ôm Út vào lòng và biết là mình đang ôm một đứa con sắp bỏ mình mà đi về một nơi miên viễn, một miền hoang vu như khói như sương nào đó. Nơi mà mình không thể nào đến tìm lại được. Thượng Đế không bán cho ai một cái vé khứ hồi. Út tới đó và Út ở lại, mặc dù nơi đó không phải là lựa chọn của Út. Rồi một ngày rất gần đây, những người thân yêu của Út chỉ biết đứng nhìn theo. Đặt vào tay Út một đóa hoa và nhìn Út quay lưng đi.

Từ khi Út bệnh tôi hay mất ngủ, tôi biết như thế là không tốt, tôi cần khỏe mạnh để giúp Út và cha mẹ Út khi cần tới mình. Tôi dỗ giấc ngủ mình bằng đọc sách. Tôi mang cuốn The Tibetan Book of Living and Dying (Tạng Thư Sống Chết) của Sogyal Rinpoche ra đọc. Tôi đọc  để tìm trong sách những hướng dẫn mình phải giúp đỡ người thân yêu cuối đời như thế nào.

Là người Công Giáo tôi tin sau cái chết linh hồn của mình sẽ đi tới một nơi nào đó tốt đẹp hay xấu hơn ở thế gian này. Tôi cũng tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa với tất cả mọi linh hồn, dù xấu hay tốt. Người sẽ phán xét với lòng bao dung. Tôi tin cô cháu tốt lành của tôi sẽ được hưởng những điều tốt lành ở nơi chốn thiêng liêng đó. Điều quan trọng là khi đối diện với cái chết cô có sẵn sàng sửa soạn để đón nhận không?

Nếu mình chấp nhận và tự giúp cho hồn mình thanh thản thì mình sẽ được đón nhận một sự ra đi êm ả. Nếu mình chống lại, tiếc nuối thì rất tội nghiệp cho phần xác cũng như phần hồn của mình. Chống chọi với tử thần là một điều không thắng nổi bao giờ.

Người Công Giáo tin rằng: Cái chết là cuối cùng của sự tồn tại cá nhân và sự khởi đầu của vĩnh cửu, khi cơ thể và tâm hồn được tách ra. Nhưng đối diện với cái chết là chuyện rất khó khăn với người đang đi vào cái chết và những người thân yêu chung quanh.“Thiên cổ gian nan duy nhất tử.”  Gian nan với người chết và cả với người sống.

Trong buổi trưa vắng lặng, tôi ngồi một mình với Út, tôi cầm tay Út nói:
Mẹ nói cũng thấy khó khăn và mẹ biết cũng khó cho con chấp nhận những lời mẹ nói. Nhưng con biết rồi đấy, khi con ra nghĩa trang thăm ông bà, con đôi khi đọc những tấm bia chung quanh, con chắc cũng nhìn thấy nhiều người chết trẻ. Họ chết vì bất cứ lý do gì: Chiến tranh, bệnh tật, tai nạn…Họ chết ở những tuổi khác nhau, nhưng con thấy rõ ràng là có nhiều người rất trẻ, trẻ hơn con hay bằng tuổi con hoặc lớn hơn con vài ba tuổi. Người ta chết ở bất cứ tuổi nào con ạ. Điều này chỉ giữa Thượng Đế và người chết biết với nhau thôi.

“Con biết”, Út vừa chậm nước mắt vừa nói. Tôi cũng nhắc cho Út biết rõ ràng là những đứa con của Út sẽ được cha của chúng và cả đại gia đình ông bà, họ hàng săn sóc thương yêu, nhất là hai người chị còn trẻ của Út.

Con nhớ là Chúa không bỏ ai. Cánh cửa này đóng sẽ có cánh cửa khác Chúa mở ra. Hai đứa con nhỏ của con khi lớn lên Chúa sẽ xếp đặt cho chúng gặp những điều tốt lành may mắn để bù lại sự thiếu thốn của người mẹ. Con cứ tin như thế thì con sẽ có cái tâm an.

Út khóc lặng lẽ, nhưng Út gật đầu.

Hai mẹ con cầm tay nhau cùng đọc lời cầu nguyện, cùng thổn thức. Điều khó khăn trong lồng ngực tôi đã mang ra chia sẻ được với con. Tôi tin là ít nhất trong khoảng khắc ngăn ngủi này Út thấy lòng thanh thản hơn một chút. Tôi ra về, ngực tôi có nhẹ hơn một chút, nhưng lòng tôi vẫn đau như cắt. Đối diện với sự mất mát quá nghiêm trọng này quả thật không dễ, vì chẳng làm thế nào mà đặt một cái gì đó có thể thay thế vào cái ghế trống của đứa con thân yêu trong gia đình sắp rời bỏ.

Không có Út, tôi gục mặt vào tay lái để mặc nước mắt mình chẩy ra đầm đìa. Con đường tôi đang đi lá vàng vẫn rơi và gió vẫn thổi nhè nhẹ như là không thổi.

Út ơi chiếc lá nào sẽ là con!

Mẹ Tú

Nov.11/2017

Saturday, November 4, 2017

NHƯNG ANH ĐÂU RỒI

Thứ Ba, 31 tháng 10, 2017

Đại sứ Mỹ Ted Osius và Tổng Lãnh sự Mỹ Mary Tarnowka 
thắp hương tại Nghĩa trang Biên Hòa, ngày 24/10/2017. 
(Ảnh: Facebook Mary Tarnowka)

Có một điều tốt đẹp sắp xẩy ra
những tan vỡ có bàn tay hàn gắn
cỏ chết khô sẽ tìm về mọc lên
cây gục ngã cũng được mang trồng lại
mỗi ngôi nhà sẽ một con số mới
đường tới thăm anh đẹp như đường làng 

Nhưng anh đâu rồi em tìm không thấy ?

Nhang mới được thắp lên ngày hôm qua
hương khói đó có bay vào mắt khép
những lóng xương của anh còn đủ không
chiếc thẻ bài còn mang mang thiên cổ
rễ cây nào như nòng súng đâm ngang
có xuyên qua những bức tường áo quan
cho anh thêm vài ba thương tích mới

Bao hứa hẹn cho điều tốt đẹp tới
nước mắt nào rửa sạch những vết thương
tình yêu nào băng bó hết tủi hờn
ai nhớ thổi cho bay mùi thuốc súng

Nhưng anh đâu rồi em tìm không thấy?

Hãy đứng lên hãy chống nạng bước ra
với bộ ngực gầy như chiếc lồng chim
những chiếc nan xương có trái tim nhỏ
trái tim khốn khổ vẫn đập nồng nàn
trái tim anh vẫn đập nhịp bao dung
giọt máu đỏ nhỏ trên mồ hoang phế.

Nhưng anh đâu rồi em tìm không thấy?

tmt – Tháng 10/29/2017


(Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã chính thức chấp nhận nguyện vọng và đề nghị của VAF vì vậy vấn đề trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa đã được đặt thành vấn đề thảo luận của hai quốc gia Hoa Kỳ và Việt Nam. Báo Người-Viet,ngày 24/10/2017)