Saturday, June 24, 2017

Con Người và Gia Súc


Những trường Tiểu Học bên Mỹ hay cho học trò lớp Một, lớp Hai đi thăm những trại súc vật của thành phố. Thường các em được xem những con vật mới sanh hay những con vật còn tuổi “baby”. Từ bò, heo, gà vịt, dê, thỏ…

Các em đôi khi cũng được xem người ta vắt sữa những con bò mẹ, hoặc những con heo mẹ đang cho một đàn heo con bú, con gà mái đang ôm một đàn con dưới cặp cánh.

Các thầy cô hướng dẫn các em những con vật này nuôi con và sanh đẻ ra sao. Tuyệt nhiên không ai cho các em biết những con vật đẹp đẽ và hữu ích như thế này đã bị loài người đối xử xấu, tốt như thế nào,ở những trang trại khác, nơi các em không được tới xem.


Tiêu Diệt Những Con Gà Bé Tí

Nhà nông ở các nước văn minh đối xử với những con gà bé tí như thế nào.

Những trẻ em ở miền quê ở các nước Á Châu hay được cha mẹ mua cho mấy con gà hay mấy con vịt bé tí về vừa làm đồ chơi, vừa làm của riêng.

Sung sướng biết bao được cầm lên, đặt xuống những con vật tròn xoe, vàng óng kêu chiêm chiếp trong lòng bàn tay còn vụng về của mình. Mỗi ngày mong cho nó lớn, rồi lại sợ nó lớn phải thả ra sân, có khi bị mang đi bán hay bị làm thịt cho cả nhà ăn. Nhưng được nhìn ngắm vuốt ve nó lúc nào cũng là niềm hạnh phúc với các em. 

Ở Mỹ, trong những trại nuôi gà lấy trứng, những con gà con (con trống không sản xuất trứng được) bị lựa chọn trong những cái máy và đưa xuống một cái ống hơi ngạt (gas) tiêu hủy hàng loạt. Nhìn cái mảng màu vàng óng tròn xoay ríu rít vừa nứt ra khỏi vỏ ( có con còn dính mảnh vỏ trên lưng) đang bị những trục máy cuồn cuộn đưa chúng xuống một cái miệng ống, cái ống đó hút chúng vào bặt hẳn tiếng kêu ríu rít, người xem phải nhắm mắt lại ngay.

Việt Nam còn thú chơi gà chọi vẫn rất phổ thông. Những con gà bị vặt trụi lông đầu, nuôi rất cẩn thận, trước khi mang ra chọi, nó được cho uống thuốc khích thích, buộc lưỡi dao sắc vào chân thả vào trường đấu. Sau một trận thư hùng hai con gà đều xơ xác, cánh xệ xuống, mình đầy máu, có khi còn mù mắt nữa.

Hình-Gà  Chọi- Minh họa

Những con gà trước khi mang đi chọi người chủ phải săn sóc công phu từ tẩm rượu bột nghệ vào thân, đùi, cổ gà để cho da được săn chắc. Rồi gà còn phải tắm nắng phơi sương nữa. Gà chọi lông đầu và lông đùi đều phải nhổ trụi để tẩm thuốc. Một con gà chọi thường mang ra đấu trường được 2,3 năm sau đó dùng làm gà di truyền giống.
Việc chơi gà chọi cũng như đánh bạc, nhiều người đã mất vợ, mất con và mất cả cửa nhà vì tiền cá độ (như đá banh vậy.)
Ở các nước Âu Mỹ hội bảo vệ xúc vật có can thiệp nên việc chọi gà khá hạn chế, có nơi bị cấm hẳn. Đem hai con gà ra đấu với những trang bị như cựa mài nhọn hay buộc mảnh dao vào chân rồi vây chung quanh hai con vật đáng thương đó hò hét, cá độ, không phải là điều đáng khuyến khích cho con người.

Hãy xem người ta đối xử với những con bò sữa như thế nào.

 Đời sống của một con bò có thể dài 20 năm. Nó có thể sanh con khi lên 2 hay 3 tuổi. Khi sanh con ra nó biết liếm con cho thật sạch và biết dẫn dắt con cho biết bú mẹ. Thường con bò con bị lấy ra khỏi lòng mẹ hai, ba ngày sau khi sanh, vì chủ nó muốn lấy sữa của bò mẹ mang bán. Bò con sẽ được nuôi bằng sữa bột và khoảng tám tuần nó được ăn thức ăn khô nhân tạo khác. Những con bò cái nhỏ sẽ được giữ lại để tiếp tục thành bò sữa, những con bò đực nhỏ, được nuôi để lấy thịt. Thịt bò non hay thịt bò già, tùy theo chủ trại quyết định.

Hình- Mẹ Con Bò

Con bò mẹ thường chảy nước mắt khi con nó bị mang đi. Người ta bảo lần sanh thứ hai nó càng quyến luyến và khóc nhiều hơn vì nó đã hiểu thêm về tình mẫu tử.

Đối với những người chủ trại, họ tìm mọi cách để lấy được số sữa tối đa của một con bò sữa, họ không hề thương xót.

Từ thời Pháp Thuộc xa xưa, ở Việt Nam người ta cũng lấy sữa bò cho người Pháp và người giầu có uống. Những con bê con bị giật ra khỏi vú mẹ như mấy câu thơ dưới đây của cố thi sĩ Trần Trung Phương: 


Con bê con một hôm trách mẹ
Thà mẹ đừng sinh đẻ con ra
Sữa thì mẹ để người ta
Đem thùng đến vắt ngày ba bốn lần
Con còn bé phải ăn rơm cỏ
Dạ trẻ thơ liệu có tiêu không
Ngày đem con những đau lòng
Oán thầm mẹ ở bất công vô tình. (TTP)

Con bò mẹ nghe tiếng con bê trách mình ở tệ, chỉ biết khóc. Nó đau lòng lắm nhưng biết là không thể nào thay đổi được. Loài người kia, những chị vú cũng mới sanh con xong, để con ở nhà cho chồng nuôi, còn mình thì phải đi nuôi vú con chủ nhà, mỗi tháng được ba, bốn đồng (thời Pháp thuộc),gửi về phụ giúp gia đình.

Vú em con cụ chủ nhà
Đem thân đi ở tháng ba bốn đồng
Con mình để cho chồng chăn dắt
Cảnh nhà nghèo ăn rặt cơm rau
Đi làm chẳng được bao lâu
Con mình khát sữa ốm đau gầy mòn.
Bao sữa bổ nuôi con ông chủ
Cậu ấm nhà béo hú mãi lên. (TTP)

Bò mẹ chỉ biết khóc nhìn theo con khi người ta đến giật con bê ra khỏi vú mình. Nó biết loài người, nếu nghèo cũng khổ ngang loài bò.
Con đừng nức nở kêu ca
Giống người còn thế nữa là mẹ đây (TTP)

Sáng tạo một cái túi trên thân bò

Nhân loại càng văn minh, càng sáng chế ra nhiều điều lạ lùng ngoạn mục. Bắt đầu là Thụy Điển rồi lan tràn sang Mỹ và Châu Âu. Những nông trại cung cấp sữa bò organicđã thi nhau  khoét những lỗ thủng xuyên qua da xương những con bò sữa, rồi đặt vào đó một cái ống bằng nhựa đi thẳng vào bao tử nó. Họ nói: nhờ cái ống này nhà nông kiểm soát được sức khỏe của bò tốt hơn, họ biết nó ăn thiếu hay đủ, cho thuốc vào đó mỗi khi sức khỏe của bò có vấn đề, do đó con bò sống khỏe mạnh, sống lâu hơn.

Với cái túi này, người ta có thể mở nắp, đóng nắp trên thân thể con bò như mở đóng một cái hộp, chỉ khác cái hộp này là một hộp da thịt biết đau đớn.

Nhìn cái hình dưới đây ngoài sự ngạc nhiên, còn không hiểu loài người có thể đối xử với xúc vật tới đâu nữa? (*) 

HÌNH- Cái túi trên mình bò
Cậu bé lên sáu xem mấy tấm hình con bò có túi trên lưng hỏi bà.
Cái túi này để làm gì vậy bà?
Để cho thức ăn và thuốc vào bụng bò
Sao con không có một cái?

Bà ngẩn người không biết trả lời cháu thế nào, vì theo cách mô tả của những thú y thì cái túi đó rất có lợi. Có cái túi đó ai cũng kiểm soát được lượng thực phẩm của con vật và tiết chế được sự hấp thụ của nó. Nó thiếu thốn gầy gò thì cho thêm thức ăn, cho thêm thuốc bổ. Nó ham ăn quá, tiêu thụ không kịp thì thò tay vào moi bớt ra để cho nó được khỏe mạnh.

Hình như có một điều gì đó vừa chạy nhanh qua đầu người bà. Ừ nhỉ, sao không nghĩ ra làm cái túi này trên cái bụng của các ông quan to, chức lớn trong những quốc gia nổi tiếng về tham nhũng nhỉ. Bao giờ người dân thấy các ngài ăn no quá, sợ các ngài bội thực thì lập tức phải thò tay vào lấy bớt ra, mang phân phát cho những cái túi trên bụng lép xẹp của những con dân nhà nghèo. Phân phát được như thế, sẽ giúp các ông có đời sống lành mạnh như những con bò và sống lâu hơn.

Nhưng nếu các ông đó có cái túi không đáy thì mong gì người nghèo được phân phát.

Mà thôi, chắc những người dân nghèo thì không cần làm túi ở bụng đâu, vì cái túi đó sẽ lúc nào cũng chỉ lép xẹp rúm ró. Có thò tay vào may ra nhặt vét được mấy cọng rau và vài mảnh cá vụn.

tmt                     
Tháng 6/21/2017

(1) Năm 2014, Thụy Điển có 14 con bò được thí nghiệm đặt những cái túi này. Những tin tức này không được phổ biến rộng rãi vì sẽ gặp sự chống đối của Hội Bảo Vệ Súc Vật.
(2) Hình vẽ Vắt Sữa Bò của Hữu Thanh trong tập Thơ Mấy Vần Tươi Sáng
Của Trần Trung Phương (1913-1945)

Monday, June 19, 2017

GIẠT VÀO BỜ


Cho dẫu nổi trôi như bọt sóng
Đời mình rồi cũng giạt vào bờ (tmt)

Thành phố Kent của tiểu bang Washington là thành phố phần đông dân chúng cư ngụ thuộc thành phần Lao Động Chân Tay (Working class/ Blue collar) Ở đây cũng rất nhiều dân thuộc các sắc tộc khác nhau cư ngụ. Thành phố này có một ngôi trường Đại Học Cộng Đồng - Highline Community College.

Hôm 15 tháng 6 vừa qua chúng tôi tới dự lễ ra trường của cô em họ bên chồng tôi. Cô Sarah, 63 tuổi, cô sống độc thân. Hồi trẻ cô bỏ học ngang làm đủ mọi công việc: Bán hàng trong các tiệm bách hóa, cầm bảng Stop sign đứng đường phụ công việc lục lộ, làm việc vặt ở các trường học, việc cuối cùng cô đi chụp hình dạo. Cô có sở trường chụp hình súc vật. Bây giờ với sự giúp đỡ của người anh họ (chồng tôi) cô trở lại trường, cô hoàn tất chương trình 2 năm về Graphic Design.
 
Đã lâu lắm chúng tôi không đi dự lễ ra trường. Con thì quá lớn, cháu thì quá nhỏ nên tôi quên mất cái không khí vừa vui vừa cảm động của một ngày ra trường. Hôm nay đến dự lễ ra trường ở một ngôi trường phần đông sinh viên là người lớn tuổi và đủ mọi thành phần di dân. Buổi lễ này có hơn 500 sinh viên, họ tốt nghiệp 4 năm, 2 năm và GED (General Education Development ) họ đủ mọi màu da, sắc tộc.
Di dân là thành phần đang làm xôn xao cả nước Mỹ.
Buổi lễ được tổ chức tại hội trường Showare Center, trung tâm trình diễn thể thao với gần 7000 chỗ ngồi. Hội trường rộng nên vào cửa không cần vé như những nơi khác. Có sinh viên thuộc diện di dân được cả một cộng đồng đi dự. Tiếng hét đầy hạnh phúc của họ làm vang dội cả một góc hội trường.

Từ trên những hàng ghế cao chung quanh hội trường cho phụ huynh và gia đình, bạn hữu, chúng tôi nhìn xuống hơn 500 sinh viên đủ mọi sắc tộc. Bên trong cái áo choàng tốt nghiệp giống nhau, lấp ló quốc phục của một vài nước (nhìn rõ hơn sau khi tan buổi lễ) Những sinh viên Hồi Giáo, phụ nữ có đội khăn hijab dưới chiếc nón ra trường, có một sinh viên Nhật mặc kimono, thấy cả cái gùi áo sau lưng nhô lên nữa. Sinh viên Việt với họ Nguyễn, Dương, Trương, Trần, Phạm chiếm một số không nhỏ (Nhóm này tuổi còn trẻ). Có một nhóm nữ tu người Việt mặc đồng phục đen của tu viện ngồi ngay sau lưng chúng tôi. Các nữ tu đi dự ra trường của một nữ tu khác. Những năm gần đây tôi gặp khá nhiều nữ tu sang Mỹ học với sự bảo trợ của Hội Thánh Công Giáo Mỹ.   
Có nhiều sinh viên rất đặc biệt trong cộng đồng đa chủng của trường học này. Bài chào mừng quan khách của anh Chủ Tịch Trường Highline College cho ta hiểu thế nào là trường đời và trường học và bài phát biểu của cô sinh viên tốt nghiệp ưu tú cho hiểu sự cố gắng, vất vả của một sinh viên có hoàn cảnh nghèo muốn hoàn tất môn học mình theo đuổi.
Anh sinh viên ngoài 30 tuổi chủ tịch sinh viên của Highline Community College nói về cuộc đời của mình. Anh là người Mỹ đen (American-African)
Anh biết dùng ma túy từ lúc 5 tuổi, bắt đầu mua bán ma túy khi 13 tuổi, anh bỏ học ở lớp 8. Lúc 27 tuổi anh bị bắt và kết án 10 năm tù. Anh không nói rõ anh ở tù bao nhiêu năm với cái án đó, nhưng anh kể ở trong tù muốn được tham gia chơi các môn thể thao thì phải ghi tên học chữ, nên anh nhận lớp và anh khám phá ra rằng anh thích học và anh được thầy giáo khuyến khích. Anh học xong trung học ở trong tù. Khi ra tù anh xin vào học ở trường Highline College này. Anh đã ra trường trong ba năm với hai chứng chỉ A A.
Tôi nghe mà ngẩn người: 5 tuổi biết dùng ma túy, như vậy có thể cha mẹ anh là người dùng ma túy hoặc cha mẹ bỏ con ở nhà cho khu xóm (một khu xóm nghèo, xì ke, ma túy) đi đâu đó kiếm sống. Suốt cả bài diễn văn anh cám ơn Thượng Đế, cám ơn thầy giáo trong tù, cám ơn thầy cô, bạn học trong trường. Tuyệt nhiên anh không hề nhắc đến cha mẹ và gia đình.
Đó là điều rất đau lòng cho anh và cho cả mấy trăm sinh viên và quan khách ngồi nghe trong buổi lễ.

Cô thủ khoa nói về nỗi vất vả của sinh viên nghèo, cô thuộc Quinault Nation (Một bộ tộc da đỏ American-Indian). Cô kể, chúng tôi ở những hoàn cảnh khác nhau: có người  đến từ một nơi xa xăm nào đó trong dạng nhập cư, họ lớn tuổi, không sinh ra trên đất nước này, vừa đi làm, vừa đi học để có một tương lai khá hơn; có người sinh ra ở đây nhưng khi còn trẻ bỏ học, đi làm đủ thứ nghề, thất bại. Bây giờ quay lại trường, họ ở trong tình trạng còn phải thay tã cho con hay săn sóc cha mẹ già trước khi đi học. Chúng tôi đều phải đi làm nhiều hơn được đi học, phải trả tiền học bằng thẻ tín dụng, phải vay, phải nợ.
Sau hai bài khai mạc, nhà trường mời đại diện của mỗi quốc gia nên nói lời chào mừng, lời cám ơn ngắn gọn bằng quốc ngữ mình. Các sinh viên tuần tự đi lên, không phân biệt tuổi tác: Mỹ, Nhật, Việt, Lào, Cam Bốt, Phi Châu, Tây Tạng, Trung Hoa, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Đông, Ấn, Thái, Phi Luật Tân…

Buổi lễ ra trường này là buổi lễ rất đặc biệt tôi được dự trong 42 năm ở Mỹ.
Trên đường về, bỗng nhiên chúng tôi nhìn nhau, hỏi: So sánh những buổi ra trường của các trường Đại Học Mỹ, từ trường công, trường tư, trường danh tiếng như Harvard, Stanford, Yale, v.v…cho học sinh xuất sắc hay cho các con nhà giầu, nơi những bài diễn văn của sinh viên ra trường đôi khi làm người nghe thán phục, gật gù liên tưởng đến tương lai xán lạn của một chính trị gia, một ứng cử viên sáng giá trong tương lai cho những chức vụ quan trọng, thì hai bài diễn văn chúng tôi vừa được nghe chắc là hai bài diễn văn sẽ ở lại trong lòng chúng tôi lâu nhất. Chúng tôi nghĩ đến công lao của những thầy cô ở Mỹ đã âm thầm giúp đỡ những học trò, sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh kém may mắn, có cha mẹ nghiện ngập hay chính họ rơi vào chỗ nghiện ngập. Những học trò di dân sức học yếu kém, đến từ nơi xa lạ, không cùng một ngôn ngữ. Thầy cô đó là những bậc phụ huynh thứ hai của họ. Chắc chắn học trò nhớ mãi mãi những thầy cô này. Chúng tôi nghĩ đến những học viên đã qua tuổi đi học, vẫn tìm đường trở về trường (như cô em họ chúng tôi), những học viên đi ra từ cánh cửa nhà tù bước vào cánh cửa nhà trường, những học trò từ nhóm di dân chính thức hay không chính thức, cố gắng có một mảnh bằng, một chứng chỉ trong tay để hội nhập vào xã hội mới có đời sống khả dĩ hơn. Họ là những người có nhân phẩm.
Mảnh vàng nhặt ra từ bãi cát, có giá trị hơn mảnh vàng lấy ra từ trong chiếc hộp bằng vàng.

Trường học và trường đời đôi khi đảo ngược. Không phải ai cũng bước vào trường học trước khi bước ra trường đời.

Những học sinh, sinh viên, với hoàn cảnh khó khăn hay thuộc diện di dân, họ có khác chi những bọt sóng bập bềnh nổi trôi trong một dòng sông lạ. May mắn với vòng tay bao dung của những thầy cô đó họ được hướng dẫn nương theo con nước, trôi giạt vào bờ.

tmt
6/15/2017


Saturday, June 17, 2017

CHA GIÀ




 Bây giờ cha như trang sử
 con vẫn ngạc nhiên mở ra
 cha giống tấm bản đồ cũ
 con ngửi mùi đất quê nhà

 Có phải cha là giọt rượu
 đọng trong đáy chén nhiều năm
 con ngửa mặt uống khôn ngoan
 từ khôn ngoan cha rót xuống

 Cha như chiếc áo mùa đông
 con đã để quên trong tủ
 mỗi khi gió bấc trở về
 vội tìm tình cha ấp ủ

 Con nhìn thân thể nhăn nheo
 như cành non nhìn xuống gốc
 chùm rễ  mọc trên đất này
 cho thân con bao nhiêu lộc

  Ôi đôi bàn tay cứng cáp
  cha dắt con đi bước đầu
  bây giờ bàn tay gầy guộc
  vin vào con những bước sau

  Cha ơi đây bờ vai rộng
  bây giờ trăng đã lớn tròn
  tóc sương ngả vào vai trẻ
  cho con đền đáp phận con.

3/9/2008

Sunday, June 11, 2017

Phạm Xuân Đài viết: MÊ HOANG

Mùa hè năm nay của tôi bắt đầu với bài thơ này 

Nghe tiếng nước cười 
         

Mở cửa ra anh đất trời rất lạ
em đoán mùa hạ về với bình minh
áo cánh em phơi qua đêm ngoài giậu
con chuồn chuồn kim ghé xuống tỏ tình

Mở cửa ra anh xem mặt trời mọc
nhìn con sâu nhỏ đo đoá hồng vàng
nó cười cuộc đời chỉ trong gang tấc
sao lại tiếc nhau một chút mê hoang 

Mở cửa ra anh đón vào mùa hạ
bàn ghế cong mình gỗ dương gỗ âm
nắng đã theo em vào sau cánh cửa
mùa hạ tung tăng trên cả chiếu nằm

Mở cửa ra anh quơ tay gọi gió
thả chân mặt hồ nghe tiếng nước cười
hai ta mỗi người một đầu mùa hạ
mình căng sợi nắng khai mạc cuộc chơi

(Thơ TMT)



Một bài thơ của thi sĩ Trần Mộng Tú, hình như làm đã lâu rồi nhưng năm nay tôi mới được đọc lần đầu đúng vào lúc mùa hè vừa tới. Bài thơ là một nỗi rạo rực, một cái gì ẩn kín vừa sống dậy, một vũ điệu tung tăng tinh quái chợt biến chợt hiện rất khó nắm bắt, nhưng vô cùng quyến rũ... Tôi tự nhủ: Bình tĩnh nào. Thơ Trần Mộng Tú tài hoa nhưng không bí hiểm, từ từ xem lại “cái đó” là gì...
A, cái áo cánh em phơi qua đêm... con chuồn chuồn kim ghé xuống... tỏ tình

Rồi lại cái gì đây nữa: Sao lại tiếc nhau một chút mê hoang, chao ôi !...

Đến bàn ghế trong nhà cũng thức dậy trong cơn động tình mà mùa hè đang thúc gọi bàn ghế cong mình gỗ dương gỗ âm

Và rồi đến cái thế giới “sau cánh cửa”, mùa hạ hay là cái gì tung tăng trên cả chiếu nằm ?
Không, tất cả chỉ là chuẩn bị, là khai tấu khúc cho nghi lễ này:

hai ta mỗi người một đầu mùa hạ
mình căng sợi nắng khai mạc cuộc chơi

Đỉnh điểm của bài thơ chỉ thực sự bắt đầu ở hai câu thơ chót, cuộc chơi chỉ bắt đầu trong chói chang mùa hạ, của ngoại giới lẫn tâm hồn và thân xác khi mình căng sợi nắng.
Nhưng trong toàn bài thơ đầy những từ ngữ ẩn dụ chuẩn bị cho khai mạc cuộc chơi, hai chữ mê hoang ở khổ thơ thứ hai theo tôi đóng một vai trò then chốt. Nó cũng chỉ là một ẩn dụ, nhưng ngầm chứa nhiều trạng thái, nhiều ý tứ phong phú đến độ như là một bảng chỉ đường vào cõi hoan lạc mà mùa hè vừa đột ngột mang về. 
Cần xem lại ý tứ cả bốn câu của khổ thơ thứ hai. 

Mở cửa ra anh xem mặt trời mọc
nhìn con sâu nhỏ đo đoá hồng vàng
nó cười cuộc đời chỉ trong gang tấc
sao lại tiếc nhau một chút mê hoang

Khởi đầu là “anh” mở cửa ra xem mặt trời mọc và gặp con sâu đo trên đóa hồng vàng. Sâu đo là loại sâu không có chân để bò; để di chuyển, nó uốn cong người lên rồi phóng cái đầu tới trước, cả thân hình nó lại nằm thẳng trên mặt phẳng, sau đó lại cong người lên và phóng tới, nó “đi” mà giống như nó đang đo khoảng cách vậy. Vì “khả năng đo đạc” ấy của con sâu, tác giả gán cho nó công việc đo thời gian, và kết quả là nó cười cuộc đời chỉ trong gang tấc, ngắn lắm.


Nhưng con sâu đo này cũng to gan thật, nó biết gì về gang với tấc mà dám bảo cuộc đời chỉ trong gang tấc ? Cả người nó, phóng một cái rồi nằm sóng soài ra, bất quá chỉ tiến được vài ba phân. Nhưng con sâu sẽ trả lời, công việc cả đời của tôi là đo, đo ngang đo dọc mãi thì còn chiều dài nào mà tôi không biết ! Cuộc đời ấy à, tôi biết rất rõ, chỉ là trong gang tấc.
Nhưng gang tấc là gì ?

Là những đơn vị đo chiều dài, ngày xưa. Tôi nhớ khi tôi còn nhỏ tôi có thấy cái “thước ta” trong nhà ông nội tôi, nó ngắn lắm, chỉ bằng độ 40 xăng-ti-mét của thước tây, trong đó cũng có chia ra từng tấc khoảng 4 hay 5 xăng-ti-mét. Tôi nhớ đại khái thế. Thời đó, khoảng năm 1944 tôi đi học trường làng, cả làng tôi hình như chưa có nhà nào biết dùng thước tây, kể cả các ông thợ mộc mà thước của họ tuy có tên gọi là “thước mộc” nhưng cũng giống y như “thước ta” thôi. Cô tôi có tổ chức mướn thợ về dệt vải và thao (một loại lụa thô) tại nhà, và tất cả sản phẩm đều được đo bằng thước ta.

Không phải nhà nào cũng có thước, tôi biết điều ấy vì thỉnh thoảng những nhà trong xóm khi có việc gì cần đo đạc thường đến mượn thước của cô tôi. Đấy là khi đo những vật cần chính xác, còn thông thường người ta chỉ đo bằng gang tay. Với bàn tay của mình, một người có thể có ba đơn vị đo lường: từ ngón tay cái, xòe thẳng ngón trỏ ra, khoảng cách đó là một gang; cũng thế, với ngón tay giữa, cũng một gang nhưng dài hơn một chút; gang dài nhất là từ ngón cái đến ngón út được xòe tối đa. Chẳng có quy định thống nhất một gang là dài bao nhiêu, đó là lối đo cá nhân, mỗi người dùng chính bàn tay của mình để đo hầu có một khái niệm khoảng cách cho riêng mình thôi. Với bàn tay của người Việt Nam, một gang trung bình là 20 xăng-ti-mét (20cm).

Trong cách đo này, hình như con người có mô phỏng thiên nhiên. Hãy quan sát một người đang đo chiều dài một cái bàn với bàn tay của mình : y hệt như con sâu đo. Thoạt tiên cũng khum bàn tay lại với ngón cái dí sát vào vật được đo, đó là hình ảnh con sâu đang cong mình lên sắp sửa phóng tới. Tiếp theo bàn tay xòe ra nằm bẹp xuống bàn, ấy là một gang tay đã được thực hiện, người ta đếm một. Rồi ngón cái di chuyển đến điểm mới, bàn tay lại cong lên và lại phóng tới, người ta đếm hai. Cứ thế, bàn tay khum lên rồi xẹp xuống, thoăn thoắt tiến tới cho đến lúc chiều dài của cái bàn được tính xong là bao nhiêu gang.

Và tiếng Việt có chữ kép “gang tấc” để chỉ một khoảng cách rất ngắn. Với người lính ở trận tiền thì “cái chết trong gang tấc”. Với hai người yêu nhau, tuy phải cách xa nhau nhưng “trái tim chỉ trong gang tấc”.
Con sâu đo, dù chỉ đo bằng chính thân mình nhỏ bé của nó, cũng đã dám buông lời ngạo nghễ: nó cười cuộc đời chỉ trong gang tấc.

Nhưng cũng nhờ lời ấy của con sâu mà dẫn đến câu then chốt của khổ thơ “sao lại tiếc nhau một chút mê hoang” khi biết rằng chiều dài cuộc đời thật ra có được bao nhiêu đâu.
Mê hoang là một chữ của ngôn ngữ thơ, nó gợi lên một trạng thái khác thường trong đời sống của con người. Mê là ngược với tỉnh, thần trí lúc mê không còn sáng suốt mà ai trong chúng ta cũng đã trải qua, ví dụ mê ngủ, khi ốm nặng có thể rơi vào mê man, mê sảng không còn ý thức. Trong nghĩa rộng nó còn có nghĩa yêu mến một cái gì rất mãnh liệt, như say mêđam mê một môn nghệ thuật, trong tình yêu thì có mê gáimê trai, mê đắm...

Nhưng mê hoang là chữ ít gặp trong ngôn ngữ thường ngày, lại làm gợi lên một cảm xúc khác lạ nếu được đặt một cách đắc địa trong một ngữ cảnh văn hay thơ.
Nhưng hoang là gì? Hoang theo nghĩa thường dùng nhất là một nơi chốn không ai héo lánh tới, như đất hoang, nhà hoang; rộng hơn là vùng thiên nhiên chưa được khai phá như hoang dãhoang vu; một cuộc sống chưa đạt đến chỗ văn minh như hoang rợhoang sơ; hoặc vi phạm vào một nề nếp của xã hội như người đàn bà không chồng mà có chửa thì gọi là chửa hoang, đứa con không thừa nhận là con hoang; một lối sống không theo giáo dục của gia đình thì gọi là hoang đàng.

Có nhiều cách dùng chữ hoang lắm, nhưng đại để là chỉ tình trạng chưa khai phá, chưa văn minh, hoặc không theo lề luật đã được mọi người công nhận.
Chữ hoang trong mê hoang có theo những cách hiểu vừa nêu không? Tôi nghĩ cũng theo nghĩa đó, nhưng lại nằm trong một lãnh vực và môi trường khác, ít ai để ý đến, đó là vùng tâm sinh lý của con người, đó là ý nghĩ, cảm xúc, cảm giác.

Thật thế sao, trong con người chúng ta cũng có những chỗ hoang, vùng hoang sao?
Một quá trình dài trong lịch sử của mình, các dục vọng của con người được khuyến cáo, dạy dỗ, thậm chí bắt buộc phải kìm nén lại, vì hầu như nền văn minh cổ xưa nào cũng thấy tham vọng, dục vọng là cái xấu xa tội lỗi. Và cái được kiểm soát ngặt nghèo nhất lại chính là cái ham muốn mạnh mẽ nhất: tình ái, tình dục. Nhu cầu ấy bị cho vào khuôn phép, nhất thiết không được buông thả. Nhớ lại cách đây không xa lắm, chỉ mới trong nửa đầu thế kỷ 20 thôi, nền luân lý nho giáo ở Việt Nam đã kiểm soát chặt chẽ mối quan hệ nam nữ như thế nào: nam nữ thọ thọ bất thân. Lớp người trẻ vừa lớn lên, nhất là người nữ, được dạy dỗ kỹ lưỡng tứ đức tam tòng, đã được chỉ định cách ăn mặc sao cho kín đáo, ngôn ngữ cử chỉ phải nghiêm chính không được lả lơi, và cuối cùng việc hôn nhân là phải “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” chứ không được tự do luyến ái.
Trong một nền giáo dục như vậy có nhiều nhu cầu tự nhiên của một con người mới lớn bị cấm đoán. Tình cảm tươi đẹp của người thiếu nữ bị chặn lại, có thể nói là bị khóa chặt lại: tâm hồn họ có một vùng hoang vắng họ không dám bén mảng vào. Thân thể một người con gái dậy thì có biết bao điều mới lạ xinh tươi họ phải nhốt lại với áo xống mớ ba mớ bảy: lại thêm một vùng hoang vắng được giáo điều tạo lập ra.
Mà không phải chỉ phái nữ. Chính tôi, từ khi là một thằng bé con cũng bị kiểm duyệt liên tục trong cuộc sống trong nhà. Không được nói tục thì hẳn nhiên rồi, lời ăn tiếng nói của “con nhà” thì phải tỏ ra có được dạy dỗ. Nhưng tôi còn bị theo dõi chặt chẽ ở một vùng ngôn ngữ khác là các bài hát, mà một đứa bé năm sáu tuổi chỉ suốt ngày nghêu ngao theo người lớn thôi. Tôi nhớ khoảng năm 1943, 44 hai bà chị của tôi hay hát Buồn Tàn Thu lắm, nhưng nếu tôi bắt chước :

Còn nhớ năm xưa
Kề má say sưa
Nhưng năm tháng qua dần
Mùa thu chết bao lần...

thì bị cảnh cáo ngay: “Ê, Minh. Con nít không được hát câu đó.” Đó là lệnh, không tuân theo thì bị đòn, nên tôi tự động xa lánh những câu mà mãi sau lớn lên tôi mới hiểu tại sao tôi bị cấm: kề má say sưa là động tác ái tình. Thời đó hẳn nhiên các bà chị của tôi cũng chưa ai có kinh nghiệm kề má cả, nhưng các bà hiểu đó là cái gì nên không muốn cậu em 5 tuổi “biết về nó” quá sớm !

Ảnh hưởng của các cấm kỵ như vậy sâu đậm hơn là mình tưởng. Mãi về sau lớn lên, đã “hoang” nhiều rồi mà những cấm kỵ vẫn còn theo mình. Tôi nhớ trong đám cưới của anh Tạ Ký khoảng năm 1962 tại Sài Gòn (lúc đó tôi đã học năm thứ hai Đại học sư phạm tại Đà Lạt), tôi và một đám bạn bè làm ồn ào ở một bàn riêng biệt với những tiếng hô : “Một, hai, ba... Dô!” Bỗng tôi bắt gặp từ một bàn khác một cặp mắt nhìn tôi, hơi nhíu mày và lắc đầu nhè nhẹ. Tôi khựng lại ngay. Cặp mắt của anh Cao Huy Thuần. Ông bố của anh Thuần và bố của tôi là bạn cùng dạy tại một trường tiểu học thời chúng tôi còn nhỏ xíu, hai gia đình rất thân với nhau, cùng một nề nếp giáo dục như nhau, đến nỗi anh Thuần, hơn tôi vài ba tuổi, mấy mươi năm sau vẫn có thể “can thiệp, nhắc nhở” khi tôi lao vào chỗ nhậu nhẹt ồn ào ấy. Cái nhíu mày của anh có kết quả ngay lập tức, chứng tỏ cái mẫu số chung giữa anh và tôi về giáo dục gia đình vẫn còn nguyên ngay cả khi chúng tôi đã bước vào đời.

Dĩ nhiên một nền giáo dục chặt chẽ như thế có những cái hay và cái dở của nó. Nó tạo nên những con người tề chỉnh, nhưng ngẫm cho cùng, cũng nghèo nàn. Khi nhỏ tôi có sống ở làng quê tôi mấy năm, và tôi cũng làm bạn với những đứa nhỏ con các nông dân quen biết với gia đình tôi. Khi tôi đi học vỡ lòng tại trường làng thì những đứa bạn chơi đùa ấy của tôi vì nhà nghèo quá vẫn không được đi học. Và lắm khi tôi có cảm giác mơ hồ là tôi thèm sự hồn nhiên của chúng nó. Chúng tôi đã bày đủ trò chơi trong vườn nhà ông nội tôi, nào buôn bán, cúng tế (tôi biết những tiếng hưng, bái, bình thân là do đám bạn này), nhồi đất nặn tượng, biến chế những khóm mít hái trong vườn với muối và gừng vừa ăn vừa xuýt xoa chảy nước mắt... nhớ lại, đó là chuỗi thời gian hào hứng của tuổi thơ. Nhưng có một điều tôi không học được từ chúng, đó là cái ngôn ngữ nguyên sơ của chúng. Chúng gọi tên từng bộ phận trong cơ thể người nam và người nữ đúng với tên nguyên thủy; những cảnh giao phối của loài vật xung quanh chúng gọi bằng tên thật của động tác tự nhiên, không mắc cỡ, không ngập ngừng. Nhưng tôi thì chịu, không bao giờ có thể gọi theo chúng nó, dù là nói thầm trong miệng cũng không dám. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy về phương diện ngôn ngữ, tôi nghèo nàn hơn đám bạn thôn quê của tôi rất nhiều, tôi đã bị ngăn cấm, cản trở từ mọi phía để giữ tư cách “con nhà” của gia đình.

Đó là mất hay là được ? Sự cấm đoán đó từ nhỏ đã tạo nên bản chất thứ hai trong người tôi, cho đến bây giờ dù trưởng thành đã lâu và đủ tư cách để có những quyết định cho chính mình, có những ranh giới tôi vẫn không thể vượt qua. Có phải nhờ thế tôi có lối nói lối viết thanh tao hơn, và do đó rất có thể là nhạt nhẽo hơn so với nhiều cây bút khác ? Sự thanh tao trong ngôn ngữ có nhất thiết biểu hiện sự thanh tao trong tâm hồn tôi không ? Tôi nghi ngờ lắm ! Nếu tôi tự cho phép mình nói và viết một cách bỗ bã thì liệu điều tôi viết có đạt đến một cái gì đó có giá trị hơn không ?

Nói chung, những người trẻ tuổi khi lớn lên trong xã hội, cả nam lẫn nữ đều bị những điều kiêng kỵ như thế cả. Nhất là phái nữ, sự cấm kỵ nặng nề hơn phái nam nhiều. Kết quả là luôn luôn, cái kề má say sưa vẫn là hình ảnh tuyệt vời với họ nhưng nhiều khi vẫn làm họ đỏ mặt một mình. Một sự cấm kỵ truyền kiếp đã ăn sâu vào căn tính chúng ta như một huyền bí ẩn giấu rất khó bạch hóa bình thường trong cuộc sống. Nhờ thế sự sống hấp dẫn hơn chăng, huyền nhiệm hơn chăng ? Có phải chính vì thế một vùng trong linh hồn lẫn thể xác của chúng ta vẫn là hoang vắng như một ngôi đền linh thiêng vốn ít ai dám bén mảng vào ? Và danh tính của nó khi con người ghé mắt nhìn vào thì đó là cõi Mê Hoang, vừa mê cuồng, say đắm, vừa hoang dã hoang vu, càng sợ càng dấn bước vào... 

Phút mê hoang chính là phút mà con người được giải phóng khỏi những cấm đoán o ép để sống thật với mình, sống thật với những vùng bấy lâu mình đã “bỏ hoang” chẳng cày xới. Tâm hồn sống với yêu đương, thể xác sống với đụng chạm, ôi những vùng đất hoang mới khai phá để thể nghiệm biết bao là say đắm, mình đang mê hay đang tỉnh đây ?
Hai chữ mê hoang nghe như có ma lực của một hoan lạc vượt khỏi các câu thúc kéo dài quá lâu. Con sâu đo nó đang cười con người đấy :

nó cười cuộc đời chỉ trong gang tấc
sao lại tiếc nhau một chút mê hoang

Trần Mộng Tú khuyến khích chúng ta nên thành thật hơn với chính chúng ta. Những kiêng kỵ truyền kiếp phải được thu hẹp lại để thưởng thức “chút mê hoang” của cuộc đời. “Sao lại tiếc nhau” như một lời trách móc về thái độ quá rụt rè đối với cuộc sống, “chút mê hoang” ấy như một chén rượu nồng và ấm và ngọt ngào, hãy ngửa cổ cạn đi để thể hiện đầy đủ chính ta trong cuộc nhân sinh này.

6 tháng 6, 2017